Phương pháp kiểm đo HP chủ yếu có:

a – Nuôi cấy khuẩn. xoắn khuẩn HP là loại khuẩn cần ít oxy. Khi nội soi dạ dày lấy niêm mạc dạ dày để tiến hành phân ly, tiếp chủng, nuôi cấy. Nếu thấy có xoắn khuẩn HP, thì có thể chẩn đoán chắc chắn. Phương pháp chẩn đoán này là “tiêu chuẩn vàng” kiểm đo xoắn khuẩn HP. Nhưng phương pháp này đòi hỏi kỹ thuật cao, thời gian dài, tỷ lệ dương tính kiểm đo thấp, nên tương đối ít ứng dụng lâm sàng.

Loading...

b – Thí nghiệm men niệu tố: Còn gọi là thí nghiệm nhanh men niệu tố. xoắn khuẩn HP có nhiều trong men niệu tố, là nguồn chính của men niệu tố trong dạ dày. Men niệu tố phân giải niệu tố sinh ra amoniac và oxit cacbon. Amoniac là hợp chất kiềm tính, làm cho trị pH của của dịch phản ứng nâng cao. Nếu trong dịch phản ứng có phenol đỏ làm chất chỉ thị, thì dịch phản ứng từ màu vàng nhạt biến thành màu hồng. Đó là nguyên lý thí nghiệm men niệu tố. Cách thí nghiệm: Dưới nội soi gắp ra 1 đến 2 mô niêm mạc dạ dày bỏ vào trong dịch thí nghiệm có niệu tố và phenol đỏ. Quan sát sắc màu của dịch thí nghiệm, nếu trở màu đỏ là dương tính. Màu đỏ xuất hiện càng thẫm, chứng minh xoắn khuẩn HP trong niêm mạc dạ dày càng nhiều. Độ nhạy và tính đặc biệt của phương pháp này rất cao, thao tác đơn giản, tiện lợi, chi phí thấp. Hiện nay đã có bán hộp thử này. Chỉ cần một phút là có ngay kết quả. Đó là phương pháp hiện nay trên lâm sàng thường dùng.

c – Kiểm tra mô. Đem soi nhiễm sắc của niêm mạc cắt, lấy ra khi soi dạ dày (nếu màu bạc là tốt), dưới kính hiển vi thấy đặc điểm hình thái của khuẩn này, tức có thể chẩn đoán được có xoắn khuẩn HP hay không. Do đó phương pháp nhiễm sắc của mô cắt là phương pháp tương đối tin cậy và cũng là phương pháp thường dùng ở lâm sàng.

Ba phương pháp trên đều cần lấy mẫu niêm mạc dạ dày, nên thuộc về phương pháp chẩn đoán có thương tích. Hai phương pháp dưới thuộc loại không có thương tích.

d – Thí nghiệm hô hấp niệu tố: Dùng đồng vị tố đánh dấu niệu tố, sau khi uống vào đo lượng oxit cacbon đánh dấu trong hô hấp, gián tiếp phản ảnh lượng men niệu tố. Đó thuộc phương pháp kiểm tra xoắn khuẩn HP không thương tích. Căn cứ vào chỗ khác nhau của vật đánh dấu có thể chia ra thí nghiệm hô hấp niệu tố 13C và thí nghiệm hô hấp niệu tố 14C. Nguyên lý của thí nghiệm này là: Nếu trong dạ dày có xoắn khuẩn HP, thì dung dịch niệu tố uống vào có đánh dấu đồng vị tố dưới tác dụng của men niệu tố sẽ phân giải thành oxit cacbon có đánh dấu và amoniac. Sau khi đường ruột, dạ dày hấp thụ, sẽ được thải loại theo hô hấp, thu lấy thể khí thở ra, có thể tính được lượng oxit cacbon có đánh dấu. Nếu không bị nhiễm xoắn khuẩn HP thì không có oxit cacbon có đánh dấu đồng vị thở ra, tức thí nghiệm hô hấp âm tính. Nếu là dương tính, chứng tỏ có nhiễm xoắn khuẩn HP. Thí nghiệm hô hấp men niệu tố có đánh dấu đồng vị tố, nhất là thí nghiệm hô hấp 13C, có ưu điểm không đau đớn, an toàn đáng tin cậy, đặc biệt thích hợp với điều tra bệnh lưu hành quy mô lớn. 13C là đồng vị tố ổn định, không cần phải lo lắng bức xạ phóng xạ nữa. Nhưng đo tương đối phức tạp, chi phí tốn. Đo kiểm tra 14C chi phí thấp, đơn giản. Nhưng lại có tính phóng xạ, không thích hợp với phụ nữ mang thai và trẻ em, thời kỳ bán suy thoái dài, ô nhiễm môi trường.

Vi khuẩn HP
Vi khuẩn HP

đ – Thí nghiệm kháng nguyên xoắn khuẩn HP ở phân là một phương pháp kiểm đo mới phát minh gần đây. Nó có ưu điểm nhanh, đơn giản, tiêu bản dễ lấy, tỷ lệ dương tính cao v.v…Tính chuẩn xác đo của phương pháp này trước khi điều trị tận gốc HP, tương đương với thí nghiệm hô hấp niệu tố. Nhưng tính chuẩn xác đo sau khi điều trị tận gốc HP, kém hơn thí nghiệm hô hấp niệu tố.

Loading...

e – Đo kháng thể huyết thanh chống lại xoắn khuẩn HP. Sau khi bị nhiễm xoắn khuẩn HP thì trong người bệnh nhân có phản ứng miễn dịch, sinh ra kháng thể chống xoắn khuẩn HP. Hút huyết thanh của người bị bệnh đi kiểm tra, tức có thể đo được kháng thể này. Ưu điểm của phương pháp này là đơn giản, nhanh, giá rẻ, không đau đớn. Nhưng kháng thể huyết thanh dương tính chưa thể phản ứng có xoắn khuẩn HP trong cơ thể. Đo nhiễm khuẩn mãn tính dẫn đến phản ứng kháng nguyên — kháng thể có thời gian rất dài, sau khi loại bỏ tận gốc xoắn khuẩn HP, phải có thời gian nhất định thì kháng thể của xoắn khuẩn HP trong huyết thanh mới mất đi. về vấn đề sau khi nhiễm xoắn khuẩn HP phải mất bao lâu trong huyết thanh mới xuất hiện kháng thể xoắn khuẩn HP với mức nhất định, và sau khi loại trừ tận gốc xoắn khuẩn HP rồi, kháng thể trong huyết thanh cần bao lâu mới mất đi thì hiện nay còn chưa được rõ ràng. Có báo cáo nói, sau khi điều trị hiệu quả xoắn khuẩn HP từ 6 đến 8 tuần, thì kháng thể xoắn khuẩn HP trong huyết thanh bắt đầu hạ xuống nhỏ giọt. Sau ba tháng điều trị tận gốc xoắn khuẩn HP, mức kháng thể của huyết thanh hạ xuống rõ ràng. Hiện nay phổ biến cho rằng: về mặt hiệu quả lâu dài, kiểm tra huyết thanh để xác định điều trị chống xoắn khuẩn HP có giá trị nhất định. Hiện nay phần lớn dùng cho điều tra bệnh lưu hành nhiễm xoắn khuẩn HP.

Rõ ràng có bị nhiễm xoắn khuẩn HP hay không thì đồng thời phải ít nhất hai loại có dương tính trong các phương pháp trên mới được.

Có những phương pháp chẩn đoán nhiễm HP nào?

Có rất nhiều phương pháp lâm sàng chẩn đoán HP, chủ yếu có thể chia ra thành 2 loại lớn: Có tính xâm nhập và không tính xâm nhập.

Phương pháp có tính xâm nhập cần lấy được mô của niêm mạc dạ dày. Thường qua nội soi lấy được tiêu bản. Mô của niêm mạc dạ dày lấy ra chẩn đoán chủ yếu bằng phương pháp như nuôi cấy khuẩn, tổ chức bệnh lý, và thí nghiệm men niệu tố v.v… Phương pháp không tính xâm nhập chủ yếu bao gồm các phương pháp như kiểm tra huyết thanh, thí nghiệm hô hấp niệu tố đánh dấu hạch tố (như 13 hoặc 14C) và cả kiểm đo kháng nguyên HP trong mẫu phân mà những năm gần đây bắt đầu sử dụng v.v…

Các thầy thuốc lâm sàng có thể căn cứ vào nhu cầu và tình hình thực tế mà chọn các phương pháp chẩn đoán trên. Nói chung, người cần kiểm tra đầu tiên, thường chọn phương pháp men niệu tố, bởi giá của nó rẻ và có thể cho kết quả nhanh. Kiểm tra nội soi cộng với lấy tiêu bản của dạ dày, nếu men niệu tố dương tính, có thể không cần đưa đi kiểm tra bệnh lý. Nếu âm tính cần đưa đi kiểm tra tổ chức bệnh lý, để loại bỏ âm tính giả. Người cần có kết quả khuẩn nhờn thuốc, và nghiên cứu khuẩn, nên chọn cách nuôi cấy khuẩn. Điều trị lâm sàng truy đuổi loại bỏ tận gốc HP, có thể dùng thí nghiệm hô hấp niệu tố không tính xâm nhập. Kiểm tra huyết thanh, phần lớn dùng để điều tra bệnh lưu hành. Đối với bệnh nhân có triệu chứng ở đường tiêu hóa trên, có thể phải kiểm tra chọn lọc, đưa đi kiểm tra soi để phát hiện xem có bệnh tật ở bộ máy không.

Ngoài ra còn có một số phương pháp kiểm tra với mục đích nghiên cứu khoa học. Chủ yếu có kỹ thuật sinh vật phân tử, dùng kiểm đo vi lượng, hoặc giám định chủng khuẩn v.v… Tiêu bản kiểm đo có thể dùng mô niêm mạc dạ dày, bựa răng, nước bọt, phân và khuẩn HP thuần hóa.

Nuôi cấy HP dùng cho những trường hợp nào?

Nuôi cấy khuẩn ở niêm mạc dạ dày để phân ly HP là một trong những phương pháp chẩn đoán HP hết sức thành thục. Hiện nay được cho là tiêu chuẩn vàng chẩn đoán HP.

HP sinh trưởng cần có cơ sở nuôi cấy phong phú dinh dưỡng. Cơ sở nuôi cấy phân ly HP được chia thành 2 loại có tính chọn lựa và không chọn lựa. Trong cơ sở nuôi cấy chọn lựa cần cho vào chất kháng sinh có nồng độ nhất định, có thể ức chế các khuẩn khác sinh trưởng, và khuẩn HP khó sinh trưởng. Trị pH của HP đối với cơ sở nuôi cấy có yêu cầu nhất định. Thường chọn dùng cơ sở nuôi cấy trung tính, hay kiềm yếu. Để nâng cao tỷ lệ dương tính nên chọn dùng cơ sở nuôi cấy phôi chế mới. Đòi hỏi của HP với môi trường cũng tương đối cao, môi trường cần ít oxy (50ml – 11), nhiệt độ thích hợp nhất là 35°-37°C. Phương pháp nuôi cấy khuẩn có thể trực tiếp chứng minh có HP tồn tại, không có dương tính giả xuất hiện, có thể làm thực nghiệm khuẩn nhạy thuốc và nhờn thuốc, làm nghiên cứu di truyền đối với các khuẩn khác nhau. Nhưng do điều kiện và kỹ thuật đòi hỏi của nó tương đối cao, đồng thời do lấy mẫu có chính xác không, chọn cơ sở nuôi cấy có chính xác không, và ảnh hưởng của thời gian nuôi cấy, có thể xuất hiện âm tính giả. Do đó thường không thích hợp với các bệnh viêm cấp cơ sở sử dụng.

Phương pháp kiểm tra nào là tiêu chuẩn vàng chẩn đoán nhiễm HP?

Tiêu chuẩn vàng kiểm tra xoắn khuẩn HP chủ yếu là:

a- Nuôi cấy khuẩn trong kiểm tra có tính xâm nhập được xem là tiêu chuẩn vàng chẩn đoán mang tính khoa học nhất. Hiện nay khuẩn HP nhờn thuốc ngày càng phổ biến. Tìm hiểu tính nhờn thuốc là việc hết sức quan trọng đối với dùng thuốc ở lâm sàng. Nuôi cấy HP có thể cung cấp những tư liệu khuẩn nhờn thuốc và phương án tham khảo loại bỏ tận gốc HP ở lâm sàng. Nuôi cấy có thể phân loại hình, giám định khuẩn, nghiên cứu đặc tính khuẩn và cơ chế gây bệnh v.v…Tính đặc biệt của nuôi cấy HP gần như 100%, còn tính mẫn cảm vào khoảng 80% đến 95%.

b- Tính chuẩn xác kiểm đo tổ chức bệnh lý cao đến trên 90%, là tiêu chuẩn vàng khác mà chẩn đoán lâm sàng thường dùng nhất. Để nâng cao tính mẫn cảm của chẩn đoán,, theo tiến cử của nhóm chuyên gia ở hội ghị Sydney, nên lấy hai mẫu to ở dạ dày đưa kiểm tra tổ chức, chỗ lấy mẫu tốt nhất là bờ cong lớn và bò cong nhỏ. Đặc biệt đôì với bệnh nhân sau khi đã điều trị thuốc, càng nên lấy mẫu nhiều hơn.

c- Thí nghiệm hô hấp niệu tố. 13C là lợi dụng HP phòng thủ men niệu tố, có thể phân giải đánh dấu đặc tính của niệu tố sinh 13C02 và amoniac, để cho người kiểm tra uống nước thực nghiệm niệu tố 13C. Người bị nhiễm HP, chất thử được phân giải sinh ra 13C02 hấp thụ qua ruột non, thở ra từ phổi, kiểm đo hạch tố trong hô hấp có thể biết nhiễm hay không. 13C không có tính phóng xạ, không có phản ứng không tốt, không ô nhiễm môi trường, có thể thích dùng với mọi tuổi tác. Nhưng hạch tố của thể khí phải tinh, giá cả lại đắt. Tính chuẩn xác của phương pháp này cao, không để lại thương tích, phản ánh được HP hoạt động, tiện cho theo dõi điều trị lâm sàng, được ứng dụng rộng rãi ở lâm sàng.

Loading...

BÌNH LUẬN

Nhập nội dung bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.