ít nhất có 3% đến 5% số trẻ em ở độ tuổi đi học nhưng không có khả năng học tập (10. Định nghĩa tình trạng mất khả năng học tập rất khác nhau, vì các nhà giáo dục học, các chuyên gia tâm lý, chuyên gia thần kinh, các nhà nhi khoa, và các chuyên gia bệnh học ngôn ngữ thường chọn các tiêu chuẩn chẩn đoán khác biệt. Một tiêu chuẩn thường gặp là sự khác nhau đáng kể giữa chỉ số thông minh (intelligence quotient – IQ) đo được và bài kiểm tra về học tập được chuẩn hóa. Theo DSM-IV thì điểm bài kiểm tra học tập với một kỹ năng được đưa ra nên từ 1 đến 2 độ lệch chuẩn (Standard deviation – SD) dưới chỉ số thông minh đo được.

Loading...

Mất khả năng học tập có xu hướng xảy ra ở một hoặc nhiều hơn trong vài lĩnh vực chính, gồm có đọc, đánh vần, tính toán các con số, hoặc diễn đạt bằng viết. Một đứa trẻ có thể biểu lộ bằng chứng không có khả năng học tập ở nhiều hơn một phạm vi kỹ năng học tập, mặc dù mức độ chung của hoạt động trí óc của đứa trẻ được thừa nhận ít nhất là ở mức trung bình. Bên cạnh đó, bác sĩ gia đình nên chắc chắn chứng minh rằng thính lực và thị lực của đứa trẻ không bị suy kém trước khi xem xét tình trạng mất khả năng học tập một cách nghiêm túc. Các yếu tố sức khỏe môi trường, như nồng độ chì tăng, cũng cầnđược loại trừ. Một đứa trẻ mất khả năng học tập được thừa nhận khi đứa trẻ này đã được tiếp xúc đầy đủ với một nền giáo dục chuẩn mực; vì vậy chẩn đoán thường không được ấn định cho tới khi ít nhất ở lớp thứ hai.

Bảng 19.2. Liệu pháp dược cho rối loạn thiếu chú ý/ tăng hoạt động ở trẻ em

Thuốc Liều đẩu tiên Liều tối đa Tác dụng phụ của mỗi loại
Các thuốc kích thích Methylphenidat 5 mg, 2 lẩn mỗi ngày 60 mg/ngày Tăng nhịp tim
(Ritalin) Tăng huyết áp Mất ngủ
Dextroamphetamin 2,5 mg, 2 lần mỗi ngày 40 mg/ ngày Biếng ăn
(Dexedrine) Đau đầu
Pemolin (Cylert) 18,75 mg, 4 lần mỗi 75 mg/ngày Dễ kích thích
ngày Tăng co giật cơ
Methamphetamin

(Desoxyn)

5 mg, 2 lần mỗi ngày 30 mg/ngày
Thuốc chống trầm cảm ba vòng (uống vào giờ đi ngủ)
Imipramin (Tofranil) 25 – 50 mg/ngày 5 mg/kg/ngày An thần
Khô miệng Bí tiểu
Desipramin 25 – 50 mg/ngày 5 mg/kg/ngày Táo bón
(Norpramin) Nhìn mờ
Amitriptylin (Elavil) 25 – 50 mg/ngày 5 mg/kg/ngày Tăng huyết áp Loạn nhịp
Thuốc hạ áp hoạt động trung tâm
Clonidin (Catapres) 0,05 mg/ngày 0,008 mg/kg/ngày Giảm huyết áp Khô miệng Chóng mặt Táo bón Đau đầu Buồn ngủ

Tình trạng mất khả năng học tập ở trẻ nhỏTình trạng mất khả năng học tập ở trẻ nhỏ

Các nguyên nhân của tình trạng mất khả năng học tập vẫn chưa được chứng minh rõ ràng, nhưng những tình trạng này có thể do nhiều yếu tố gây ra. Fennell gợi ý rằng có bốn loại căn nguyên, kể cả trẻ em với: tiền sử về thần kinh đã được xác định (thí dụ: các rối loạn co giật); “các dấu hiệu nhẹ” về thần kinh hoặc chậm phát triển rõ rệt; những tình trạng mất khả năng học tập không có các dấu hiệu thần kinh dương tính; và những tình trạng mất khả năng học tập thứ phát do các rối loạn tâm thần như trầm cảm. Vì tương lai học tập, những đứa trẻ có vấn đề về học tập thứ phát do các vấn đề về cảm xúc hoặc sự thiếu thốn về môi trường được loại trừ ra khỏi nhóm mất khả năng học tập.

Loading...

Mặc dù những tình trạng mất khả năng học tập được chẩn đoán riêng về các kỹ năng học tập, chúng thường có thể quy cho là sự thiếu hụt cơ bản nhiều hơn về ngôn ngữ biểu đạt hoặc dễ tiếp thu, về lý giải tài liệu được trình bày bằng nói hoặc viết, hoặc các kỹnăng nhìn nhận không gian. Những đứa trẻ không có khả năng đọc có thể có khó khăn tiềm ẩn trong việc nối kết các chữ viết với các âm ngữ âm hoặc kết hợp các chữ thành những từ hoặc trình tự có đầy đủ ý nghĩa. Các tình trạng mất khả năng tính toán số học có thể do thiếu trí nhớ theo từng chữ (thí dụ: ghi nhớ các bảng nhân) hoặc các kỹ năng hệ thống nhìn nhận không gian (thí dụ: giữ các con số ở trong những cột thích hợp).

Bác sĩ gia đình có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc trợ giúp một đứa trẻ (và bố mẹ) bị nghi ngờ có tình trạng mất khả năng học tập. Bác sĩ gia đình có thể tiếp xúc chuyên môn đầu tiên khi đứa trẻ đang có biểu hiện kém cỏi ở trường. Nên luôn luôn chú ý đến tình trạng mất khả năng học tập khi đánh giá những trẻ có các vấn đề về học tập, nhất là những bệnh nhân ở tuổi học tiểu học.

Mặc dù một đứa trẻ mất khả năng học tập có thể có tiền sử một thời gian dài về tình trạng luôn luôn kém ở trường, nhưng đứa trẻ đang hoạt động chức năng cao hơn có thể không được phát hiện cho tới cuối cấp tiểu học, như ở lớp 4 hoặc lớp 5. ở những lớp sau, điều cần nhấn mạnh nhiều hơn là các kỹ năng làm việc độc lập, như tự đọc hoặc viết các bài luận mà ở đó đứa trẻ cần phải tạo ra cách viết của chúng mà không có sự giúp đỡ từ bên ngoài như một cuốn sách bài tập được cấu trúc sẵn.

Bác sĩ cũng nên quan tâm các rối loạn khác ở tuổi thiếu niên như Giảm chú ý/rối loạn tăng hoạt động . Khi có một hành vi rối loạn cùng với biểu hiện học tập kém thì vấn đề chủ yếu có thể là rối loạn về cách ứng xử hoặc về sự bất chấp đối nghịch, hoặc một mình hoặc kết hợp với tình trạng mất khả năng học tập. Sự sụt xuống đột ngột một cách tương đối kết quả học tập gợi ý cho bác sĩ về một vấn đề thuộc cảm xúc như trầm cảm, sự căng thẳng gia đình, hoặc lạm dụng chất.

Để có báo cáo chính thức một trường hợp mất khả năng học tập, các trẻ em cần tiến hành kiểm tra với hệ thống phân độ thông minh Wechsler cho trẻ em-III (Wechsler Intelligence Scale for Children-III – WISC-III) hoặc hệ thống phân độ thông minh Wechsler trước khi đi học và tiểu học-được chỉnh sửa (Wechsler Preschool and Primery Scale of Intelligence-Revised – WPPSI-R) cũng như các bài kiểm tra trí tuệ như Woodcock- Johnson. Những bài kiểm tra này có thể được quản lý và làm sáng tỏ bởi một chuyên gia tâm lý học trường học hoặc lâm sàng. Luật pháp quốc gia 94-142 đảm bảo cho tất cả trẻ em có những nhu cầu đặc biệt một nền giáo dục thích hợp trong môi trường hạn chế ít nhất. Các bác sĩ gia đình có thể rất có công lao giáo dục các bố mẹ và khuyến khích họ tìm kiếm các dịch vụ giáo dục và chẩn đoán cho con của họ.

Loading...

BÌNH LUẬN

Nhập nội dung bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.