KINH BIỆT VÀ CÁCH VẬN DỤNG

Mười hai kinh biệt được xếp chung vào nhóm kinh mạch.

Tuy nhiên nó tạo thành hệ thống đường đặc biệt (gọi là lục hợp ) xuất phát từ kinh chính.

HỆ THỐNG ĐẶC BIỆT VỀ LỤC HỢP

Chương 41, sách Linh khu mô tả lục hợp cấu thành hệ thống kinh biệt như sau:

Túc thái dương (Bàng quang) và túc thiếu âm (Thận) hợp nhau ở dưới thấp (ở nhượng chân) và ở trên (vùng ót gáy).

Túc thiếu dương (Đởm) và túc quyết âm (Can) hợp nhau ở xương mu.

Túc dương minh (Vị) và túc thái âm (Tỳ) hợp nhau ở bẹn.

Thủ thái dương (Tiểu trường) và thủ thiếu âm (Tâm) hợp nhau ở khóe mắt trong.

Thủ thiếu dương (Tam tiêu) và thủ quyết âm (Tâm bào) hợp nhau ở dưới xương chũm.

Thủ dương minh (Đại trường) và thủ thái âm (Phế) hợp nhau ở cổ.

Với hệ thống này, 12 đường kinh chính thông qua hệ thống kinh biệt đã ảnh hưởng đến những vùng khác của cơ thể.

VAI TRÒ SINH LÝ

Các kinh biệt hỗ trợ những đường kinh chính ở bên trong cơ thể

Các kinh biệt sau khi từ kinh chính phân ra, kinh âm đa số đi hướng về kinh dương và hội họp ở đây và như vậy nó làm tăng thêm mối quan hệ biểu lý của các kinh âm và kinh dương trong cơ thể, nó làm các đường kinh chính mạnh lên bằng cách nối với các kinh dương.

Các kinh biệt đều xuất phát từ các khớp lớn, đi vào trong bụng, trong ngực để đến các tạng phủ, sau đó chúng xuyên qua tâm để nối ra mặt, cổ hay gáy và nối với các đường kinh dương.

Hệ thống nối này giải thích sự việc 12 đường kinh chính không tùy thuộc duy nhất vào hệ thống của chính nó mà còn phụ thuộc vào hệ thống vào/ra (ly/hợp) của các đường kinh biệt. Sự sắp xếp tổ chức của những hệ thống sau này phức tạp hơn hệ thống ở chân và tay. Nói khác đi, các hoạt động sinh lý của cơ thể không chỉ tùy thuộc 12 đường kinh chính mà cả với kinh biệt.

Kinh biệt có vai trò hỗ trợ, phụ, bù cho các kinh chínCác vùng không có kinh chính đi qua sẽ chịu sự kiểm soát của kinh biệt. Thông qua sự phân bố và tuần hành 12 kinh biệt, chúng ta thấy chúng tăng cường sự quan hệ giữa các bộ vị trong nội tạng của toàn bộ kinh mạch trong thân thể. Trong những vùng mà 12 kinh chính không phân bố đến thì 12 kinh biệt nối liền chúng lại.

Ví dụ 1: Lý thuyết Đông y rất chú trọng đến mối quan hệ giữa Tâm và Thận. Khảo sát 12 kinh chính chúng ta thấy sự tuần hành của kinh túc thiếu âm Thận có đến Tâm, ngược lại kinh chính thủ thiếu âm Tâm lại không có phân bố đến Thận. Thế nhưng, kinh biệt túc thái dương Bàng quang có con đường vào Bàng quang, tán ra ở Thận rồi lại bố tán ở Tâm. Đây chính là con đường đã nối liền quan hệ giữa Tâm và Thận.

Ví dụ 2: Vị có ảnh hưởng đến Tâm. Thiên Nghịch điệu luận, Tố vấn có nêu: “Vị bất hòa thì ngủ không yên giấc”. Khảo sát 12 kinh chính, ta thấy Vị kinh không có nhánh đến Tâm và ngược lại kinh chính Tâm cũng không có nhánh đến Vị. Nhưng nếu khảo sát hệ thống kinh biệt thì thấy kinh biệt Vị có đến Tỳ, lên trên lại thông với Tâm, làm thông được con đường nối liền giữa Tâm và Vị. Nhờ thế mà phương pháp hòa vị khí để an tâm thần là có cơ sở.

Các kinh chính âm

Các kinh chính âm (ngoại trừ kinh túc quyết âm Can lên đến đỉnh đầu và kinh Tâm lên đến vùng mặt) đều có ảnh hưởng trên đầu và mặt, dù lộ trình của nó tận cùng ở ngực và hầu.

Lý do là các kinh biệt âm đều chạy đến cổ hay mặt và nối với các kinh biệt dươnCác kinh chính dương ở vùng đầu mặt như vậy đã nhận được khí huyết từ các kinh biệt âm.

VAI TRÒ TRONG BỆNH LÝ VÀ ĐIỀU TRỊ

Chương 11 sách Linh khu khảo sát về kinh biệt đã mô tả rõ các đường đi của kinh nhưng không nêu lên các rối loạn của kinh biệt. Dù thế nào đi nữa về mặt điều trị, chúng ta phải chọn các huyệt theo đường kinh và dựa trên tính chất âm dương của bệnh và trên triệu chứng học.

Trong thực hành châm trị, khi tiến hành việc thủ huyệt để châm, người thầy thuốc rất cần chú trọng đến lý luận biểu, lý, thuộc, lạCó những bệnh thực sự ở biểu kinh mà ta lại chọn huyệt ở lý kinh (ví dụ: nhức đầu thủ huyệt liệt khuyết, ngược lại có khi Phế kinh bị bệnh mà thủ huyệt hợp cốc, khúc trì; hoặc như trường hợp tỳ hư, sự vận hóa trở nên thất thường làm xuất hiện chứng bụng trướng, cầu phân lỏng ta thủ huyệt túc tam lý…).

Khi khảo sát triệu chứng của 12 đường kinh chính, chúng ta nhận thấy có những bệnh lý mà vị trí nằm bên ngoài vùng chi phối bởi các đường kinh chínCác bệnh ấy nằm trong vùng chi phối của kinh biệt.

Trong châm cứu trị liệu, người ta rất chú trọng vai trò của những huyệt trên đầu và mặt (nhĩ châm, diện châm, tỵ châm). Những phương pháp nói trên đã đóng góp nhiều trong việc trị liệu tật bệnh toàn thân và ngay cả lĩnh vực châm tê nữTất cả những kết quả đó phải kể đến vai trò hội họp của kinh biệt, giữa kinh biệt và kinh mạch làm cho kinh khí tập trung được lên đầu mặt.

Tác dụng của một số huyệt trên một số vùng không có đường kinh đi qua đã cho thấy sự ảnh hưởng của kinh biệt (ví dụ: tác dụng của những huyệt giản sử và đại lăng ở hầu – kinh chính không đi qua cổ). Như vậy có thể xem triệu chứng của kinh biệt đã xen lẫn với các triệu chứng của kinh chính.

ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA KINH BIỆT

Lộ trình những kinh biệt có đặc điểm:

Xuất phát từ các khớp lớn.

Chủ yếu phân bố bên trong cơ thể (đi vào trong bụng, trong ngực để đến các tạng phủ).

Hệ thống những kinh biệt đóng vai trò hỗ trợ cho hệ thống kinh chính:

Trong sinh lý: liên lạc và vận hành khí huyết đến những vùng cơ thể (chủ yếu bên trong) mà kinh chính không kiểm soát, đảm bảo đặc điểm “cơ thể thống nhất” của Đông y học.

Trong bệnh lý: hỗ trợ phân tích những triệu chứng không thể giải thích được với chỉ lộ trình kinh chính tương ứng.

Trong điều trị: hỗ trợ giải thích những tác dụng điều trị của huyệt.

HỆ THỐNG HỢP THỨ I: (Bàng quang – Thận)

Kinh biệt bàng quang

Bắt đầu từ ủy trung đi lên mông, nhập vào giang môn.

Cách xa xương cụt 5 thốn, nó phân nhánh đến thận, đi lên dọc theo cột sống phân nhánh vào Tâm đến vùng gáy. Nơi đây nó đi vào kinh Bàng quang ở huyệt thiên trụ.

KINH BIỆT THẬN

Từ huyệt âm cốc, xuất phát nhánh kinh biệt đi vào hố nhượng (nối với ủy trung), đi cùng kinh biệt của Bàng quang đến Thận.

ở khoang đốt sống thắt lưng 2 nó đi vào mạch Đới, theo mạch Đới đi tới huyệt trung chú của Thận kinh, sau đó nó mượn đường mạch Xung để đến đáy lưỡi, từ đáy lưỡi nó xuất hiện ra gáy nối với kinh chính Bàng quang ở huyệ

Hình 4.Kinh biệt Thận – Bàng quang Hình 4.Kinh biệt Can – Đởm

HỆ THỐNG KINH BIỆT THẬN – BÀNG QUANG

Kinh biệt Bàng quang hỗ trợ (bổ sung) thêm cho kinh chính Bàng quang ở giang môn (hậu môn).

Kinh biệt Thận hỗ trợ (bổ sung) thêm cho kinh chính Thận ở mạch Đới.

Kinh biệt Thận và kinh biệt Bàng quang hợp ở cổ gáy: huyệt thiên trụ.

HỆ THỐNG HỢP THỨ II (ĐỞM – CAN)

KINH BIỆT ĐỞM

Xuất phát từ huyệt hoàn khiêu chạy vào vùng trên xương vệ (nối với kinh biệt của Can ở huyệt khúc cốt). Từ khúc cốt, đi lên về hướng hông sườn đi sâu vào bụng ở các sườn giả (huyệt chương môn)đến Đởm rồi đến Can, chạy tiếp theo thành trong ngực đến Tâm và đến hầu họng.

Xuất hiện ở hàm dưới, phân nhánh ở mặt và đến khóe mắt ngoài nối với kinh chính ở đồng tử liêu.

KINH BIỆT CAN

Kinh chính của Can đi đến vùng xương mu ở huyệt khúc cốt thì cho nhánh biệt.

Nhánh này đi theo kinh biệt Đởm để đến vùng sườn giả đi vào Can, Đởm, tâm, hầu họng.

Xuất hiện ở mặt, đến khóe mắt ngoài tạo thành hợp thứ 2.

HỆ THỐNG KINH BIỆT ĐỞM – CAN

Kinh biệt Đởm hỗ trợ (bổ sung) thêm cho kinh chính Đởm phân bố ở tạng Tâm, hầu họng.

Kinh biệt Can hỗ trợ (bổ sung) thêm cho kinh chính Can ở tạng Tâm.

Kinh biệt đởm và kinh biệt Can hợp ở khóe mắt ngoài: huyệt đồng tử liêu.

HỆ THỐNG HỢP THỨ III (vị – Tỳ)

KINH BIỆT VỊ

Kinh chính của Vị đến mặt trước ngoài đùi (huyệt phục thỏ) thì cho kinh biệt đi lên nếp bẹn ở huyệt khí xung.

Từ đây, đi sâu vào bụng đến Vị và Tỳ, đến Tâm, đi lên cổ ở huyệt nhân nghinh tạo thành hệ thống hợp thứ 3, sau đó, đến miệng, đến dưới cánh mũi, đến bờ dưới ổ mắt, đến khóe mắt trong tình minh (nơi đây nối với nhánh của kinh chính Vị).

KINH BIỆT TỲ

Kinh chính đi đến giữa đùi (huyệt kỳ môn của Tỳ kinh) thì xuất phát kinh biệt đi lên đến bẹn ở huyệt khí xung (hợp với kinh biệt của Vị), từ đây đi tiếp theo đường kinh biệt của Vị đến cổ (hợp với Vị ở huyệt nhân nghinh) sau đó lặn sâu vào lưỡi.

HỆ THỐNG KINH BIỆT VỊ – TỲ

Kinh biệt Vị hỗ trợ (bổ sung) thêm cho kinh chính Vị phân bố ở tạng Tâm.

Kinh biệt Tỳ không có hỗ trợ thêm cho kinh chính Tỳ.

Kinh biệt Vị và kinh biệt Tỳ hợp ở cổ: huyệt nhân nghinh.

HỆ THỐNG HỢP THỨ IV (Tiểu – Trường – Tâm)

KINH BIỆT TIỂU TRƯỜNG

Xuất phát từ huyệt nhu du ở vai (kinh Tiểu trường).

Đi vào hố nách đến huyệt uyên dịch.

Từ đây đi sâu vào trong ngực đến tâm và Tiểu trường.

Một nhánh biệt khác xuất phát từ quyền liêu đến nối ở tình minh để tạo thành hệ thống hợp thứ 4.

KINH BIỆT TÂM

Xuất phát từ huyệt cực tuyền đến huyệt uyên dịch.

Từ đây đi sâu vào trong ngực đến Tâm đi lên cổ, xuất hiện ở mặt đến huyệt tình minh.

HỆ THỐNG KINH BIỆT TIỂU TRƯỜNG – TÂM

Kinh biệt Tiểu trường không có hỗ trợ thêm cho kinh chính Tiểu trường.

Kinh biệt Tâm không có hỗ trợ thêm cho kinh chính Tâm.

Kinh biệt Tâm và kinh biệt Tiểu trường hợp ở khóe mắt trong: huyệt tình minh.

HỆ THỐNG HỢP THỨ V (Tam tiêu – Tâm bào)

KINH BIỆT TAM TIÊU

Kinh chính Tam tiêu có nhánh đến bách hội.

Từ bách hội xuất phát kinh biệt Tam tiêu chạy xuống xương chũm (huyệt thiên dũ) để nối với kinh biệt Tâm bào.

Sau đó xuống hố thượng đòn (huyệt khuyết bồn và huyệt khí hộ của Vị kinh) đến Tâm bào và Tam Tiêu.

KINH BIỆT TÂM BÀO

Xuất phát từ huyệt thiên dung.

Đến huyệt uyên dịch, đi sâu vào lồng ngực đến Tâm bào rồi vào Tam tiêu.

Từ ngực cho một nhánh lên cổ ở huyệt liêm tuyền, sau đó ra sau xương chũm ở huyệt thiên dũ để tạo thành hệ thống thứ 5.

HỆ THỐNG KINH BIỆT TAM TIÊU – TÂM BÀO

Kinh biệt Tam tiêu không có hỗ trợ thêm cho kinh chính Tam tiêu.

Kinh biệt Tâm bào hỗ trợ (bổ sung) thêm cho kinh chính Tâm bào ở vùng cổ, họng (hầu lung).

Kinh biệt Tam tiêu và kinh biệt Tâm bào hợp ở sau tai: huyệt thiên

HỆ THỐNG THỨ VI (Đại – Trường – Phế)

KINH BIỆT ĐẠI TRƯỜNG

Xuất phát từ huyệt kiên ngung, đi vào trong ngực đến Phế và Đại trườnTừ Phế lên cổ xuất hiện ở thượng đòn (huyệt khuyết bồn), rồi nối vào kinh chính ở huyệt phù đột của Vị kinh để tạo thành hệ thống thứ 6.

KINH BIỆT PHẾ

Xuất phát từ huyệt trung phủ, đi xuống uyên dịch vào trong ngực đến Phế và Đại trường

Từ Phế đến hố thượng đòn ở huyệt khuyết bồn, theo cổ lên đến phù đột.

HỆ THỐNG KINH BIỆT ĐẠI TRƯỜNG – PHẾ

Kinh biệt Đại trường không có hỗ trợ thêm cho kinh chính Đại trường chi phối vùng cổ, họng (hầu lung).

Kinh biệt Phế không có hỗ trợ thêm cho kinh chính Phế.

Kinh biệt Đại trường và kinh biệt Phế hợp ở cổ: huyệt khuyết bồn.

Sơ đồ lục hợp của 12 kinh biệt

Bảng Hệ thống kinh biệt ở chân

ĐƯỜNG KINH

XUẤT PHÁT

PHÂN NHÁNH

NƠI XUẤT RA

ĐỂ HỢP

HỢP Ở

Túc thái dương

Giữa khoeo chân, giang môn

Bàng quang, Thận, Tâm

Cổ gáy

Túc thái dương nhất hợp (cổ gáy)

Túc thiếu âm

Giữa khoeo chân

Đới mạch, cuống lưỡi,

đốt sống thứ 14

Túc thiếu dương

Mép lông mu, bờ sườn cụt

Đởm, Can, Tâm, thực quản

Hàm dưới, mép, khóe mắt ngoài

Túc thiếu dương nhị hợp (khoé

mắt ngoài)

Túc quyết âm

Mép lông mu

Cùng đi với kinh biệt thiếu dương

Túc dương minh

Mấu chuyển lớn, trong bụng

Vị, Tỳ, Tâm, thực quản

Miệng, mục hệ

Túc dương minh tam hợp (thực quản)

Túc thái âm

Mấu chuyển lớn

Cùng đi với biệt xuyên cuống lưỡi

Bảng Hệ thống kinh biệt ở tay

ĐƯỜNG KINH

XUẤT PHÁT

PHÂN NHÁNH

NƠI XUẤT RA

ĐỂ HỢP

HỢP Ở

Thủ thái dương

Vùng khớp vai, nách

Tiểu trường,

Tâm

Mặt, khoé mắt

trong

Thủ thái dương tứ hợp (khoé

mắt trong)

Thủ thiếu âm

Huyệt uyên dịch, giữa 2 gân

Tâm

Thủ thiếu dương

Đỉnh đầu, khuyết bồn

Tam tiêu, giữa ngực

Sau tai dưới, hoàn cốt, hầu

lung

Thủ thiếu dương ngũ hợp (sau tai dưới hoàn

cốt)

Thủ quyết âm

Dưới

uyên dịch 3 thốn

Tam tiêu, giữa ngực

Thủ dương minh

Huyệt kiên ngung, trụ cốt

Đại trường, Phế, hầu lung

Khuyết bồn, hầu lung

Thủ dương minh lục hợp (khuyết bồn)

Thủ thái âm

Uyên dịch, trước kinh thiếu âm

Phế Đại trường

BÌNH LUẬN

Nhập nội dung bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.