Điều trị vô sinh nam giới cũng có nhiều khó khăn vì phải xác định được đúng nguyên nhân thì việc điều trị mới có hiệu quả. Việc điều trị nội khoa chủ yếu phải dùng các nội tiết tố, hiện nay giá tiền rất đắt khó phù hợp với mức sống kinh tế hiện tại của cộng đồng người Việt Nam. Thêm nữa, các nguyên nhân nội khoa và ngoại khoa thường xen kẽ nhau nên cần thiết phải chỉ định đúng lúc kết hợp điều trị nội khoa và ngoại khoa.

Điều trị nội khoa

Một số nguyên tắc điều trị cơ bản

  • Người ta thấy rằng, có sự liên quan giữa tổn thương của quá trình oxy hoá ADN ở tinh trùng và hiện tượng vô sinh nam. Theo Komada H. và cộng sự, mức 8-hydroxy- 2 deoxyguanosin- một dạng của tổn thương oxy hoá trong tinh trùng của bệnh nhân vô sinh nam cao hơn so với nhóm đối chứng (1,5±0,2 so với 1,0±0,1/105 deoxyguanosin). Khi điều trị bằng các thuốc chống oxy hoá, các tổn thương này giảm xuống rõ rệt, hàm lượng 8- hydroxy – 2 deoxyguanosin giảm từ 1,5±0,2 xuống 1,1±0,1/105
  • Trong những năm gần đây người ta cố gắng điều trị những trường hợp bất thường về sự sinh tinh do rối loạn chức năng vùng dưới đồi – tuyến yên bằng hormon.

Lacono F. và cộng sự đã sử dụng FSH (150UI) liều cao để điều trị các bệnh nhân suy giảm tinh trùng (số lượng tinh trùng < 20 X 106/ml). Theo tác giả, với FSH liều cao, số lượng tinh trùng và tỷ lệ tinh trùng khoẻ tăng rõ rệt so với nhóm điều trị bằng liều thấp (p< 0,001) Strehler E. và cộng sự cũng đã sử dụng FSH với liều 150 UI/ngày trong 12 tuần để điều trị cho 46 bệnh nhân vô sinh nam có tinh trùng ít và yếu, thấy tăng số lượng tinh trùng có hình thái bình thường.

Nhiều tác giả cũng đã đề nghị sử dụng clomiphen citrat khi hàm lượng LH, FSH thấp. Clomid và tamoxifen là loại kháng estrogen, kích thích hoạt động của tinh hoàn bằng tác dụng gây tăng tiết FSH và LH nội sinh. Do đó, có thể làm tăng số lượng tinh trùng lên 60,0% và có thai 20,0% sau điều trị. Liều clomid uống hàng ngày là 25 hoặc 50mg trong 3-6 tháng. Clomiphen còn làm giảm số lượng tinh trùng dị dạng.

  • Nhiều tác giả đã sử dụng testosteron với liều 100- 200mg/tuần trong 3-4 tháng để làm giảm số lượng tinh trùng. Sau khi ngừng thuốc một thời gian, sẽ có hiệu ứng bật (rebound effect) và làm tăng số lượng tinh trùng Wang và cộng sự (96) đã điều trị testosteron 2 tuần 1 lần không thấy có kết quả khả quan.
  • Mesterolon là một loại androgen được chọn để điều trị tinh trùng ít, trong nhiều năm. Mesterolon là một loại androgen không thể chuyển hoá sang estrogen, có hoạt động ức chế kém đối với gonadotropin và độc lập không bị estrogen làm giảm tác dụng. Người ta hy vọng rằng, Mesterolon có thể kích thích trực tiếp đến sự sinh tinh của tinh hoàn (25).

Theo Aafjes và cộng sự, với liều Mesterolon 75 mg/ngày trong 6 tháng không thấy có sự tăng số lượng tinh trùng. Gerris J và cộng sự đã sử dụng Mesterolon với liều 150mg/ngày trong 12 tháng thấy tỷ lệ có thai ở nhóm điều trị Mesterolon là 26,0 % và ở nhóm đối chứng là 48 %. Tuy nhiên, các tác giả cũng thấy có tăng tỷ lệ tinh trùng khoẻ và tinh trùng có hình dạng bình thường.

Do đó, các tác giả đã đặt vấn đề nghi ngờ kết quả điều trị vô sinh nam tự phát (idiopathic) của Mesterolon.

  • Việc sử dụng hMG (Human Menopo Gonadotropin) hay hCG (Human Chorionic Gonadotropin) có tác dụng giống như LH và FSH cũng được đề cập. Rosemberg (1976) đã điều trị 87 trường hợp suy giảm tinh trùng (11-20×106/ml) bằng hMG đơn thuần hay kết hợp với hCG thấy 44 trường hợp số lượng tinh trùng tăng > 30 X 106/ml và 17 trường hợp sinh con (19,5%); Còn trong 98 trường hợp*suy giảm tinh trùng nặng (<10 X 106/ml) có 30 người (30,6%) có số lượng tinh trùng tăng tới 20 – 30 X 106/mỉ và 7 trường hợp sinh con (14%). Schill (1982) dùng hMG cộng với hCG điều trị 48 bệnh nhân suy giảm tinh trùng (< 20 X 106/ml) tự phát trong 3 tháng thấy 10/33 bệnh nhân sinh con trong vòng 1 năm, 16/48 bệnh nhân số lượng tinh trùng cao hơn 25×106/ml.
  • Trong các trường hợp vô sinh nam, có tới 5,2% bệnh nhân có prolactin máu tăng cao. Đối với các trường hợp này, có thể dùng Bromocryptin để điều trị. Theo một số tác giả, cũng có thể dùng Bromocryptin để điều trị các trường hợp vô sinh do tinh trùng ít, yếu không rõ nguyên nhân.

Một số tác giả cho rằng, prostaglandin đã ức chế sự sinh tinh, do đó có thể dùng Indomethacin điều trị với mục đích ức chế prostaglandin nội sinh. Barkey J. và cộng sự thấy kết quả điều trị vô sinh nam bằng Indomethacin với liều 50mg và 75mg/ngày trong 60 ngày chưa rõ ràng.

  • Lenzi A. và cộng sự đã dùng glutathion (600mg/ngày tiêm tĩnh mạch 2 tháng) để điều trị 11 bệnh nhân vô sinh nam thấy, sau 30 – 60 ngày điều trị, số tinh trùng khoẻ đã tăng lên rõ rệt. Theo tác giả, có thể ứng dụng glutathion để điều trị các trường hợp vô sinh nam.
  • Nếu dùng arginin điều trị củng cố thêm với các thuốc nói trên, có thể làm tốt hơn chất lượng của quá trình sinh tinh. Theo Scibona M. và cộng sự L – arginin HC1 có thể cải thiện khả năng chuyển động của tinh trùng mà không hề có tác dụng phụ nào. Lewin A. và cộng sự cho rằng coenzym Q10 có tác dụng làm tăng khả năng di động của tinh trùng.

Theo nhiều nhà nghiên cứu Pentoxyfyllin có tác dụng điều trị các trường hợp suy nhược tinh trùng trong khi hormon hướng sinh dục bình thường . Theo Shen M.R. và cộng sự sau 3 tháng điều trị bằng Pentoxyfyllin, tỷ lệ tinh trùng khoẻ tăng lên, nhưng mật độ tinh trùng không tăng. Còn Merino G. và cộng sự đã sử dụng Pentoxyfyllin với liều 1200mg/ngày trong 6 tháng, thấy nồng độ các hormon hướng sinh dục, thể tích tinh dịch cũng như số lượng tinh trùng, khả năng sống và hình thái của các tinh trùng không thay đổi trước và sau điều trị. Nhưng tỷ lệ các tinh trùng khoẻ đã tăng lên một cách rõ rệt sau 3 tháng, 6 tháng điều trị (từ 25,5% lên tới 35,5% – 3 tháng và 42,0% – 6 tháng với p < 0,001). Các tác giả cho rằng Pentoxyfyllin có thể ứng dụng điều trị vô sinh nam.

Tóm tắt phác đồ điều trị nội khoa

  • Dùng các kháng sinh đặc hiệu để điều trị các bệnh viêm nhiễm đường sinh dục, tiết niệu. Các thuốc đặc hiệu điều trị lao, lậu, và một số các bệnh lây lan qua đường tình dục. Các thuốc dễ lan toả vào đường sinh dục như :

Trimethoprim

Sulfamethazol

Amoxicillin

Fluroquinolon

  • Dùng corticoid trong vô sinh do miễn dịch.
  • Dùng Bromocriptin 5-10mgr/ngày để điều trị vô sinh nam giới do nội tiết tố prolactin máu tăng cao.
  • Dùng các nội tiết tố :

Nhóm FSH : Humegon 75 IU/ống

Puregon 50 IU/ống

Liều dùng : 37,5 – 150 IU/ 1-3 lần trong tuần X 10 tuần

Nhóm LH : Pregnyl 1500 IU/ống

Gonadotropin chorionic Endo 1500 IU/ống Liều dùng : 1000-3000 IU/ 1-3 lần trong tuần X 10 tuần.

Nhóm androgen (xem phần sử dụng nội tiết điều trị rối loạn cương dương).

Thuốc uống : Andriol (undecanoate testosteron)40mgr/l viên

Liều tấn công : 4 viên/ngày X 30 ngày Liều duy trì: 1 viên/ngày X 30 ngày

Thuốc tiêm : Propionat testosteron 25mgr/ ống/ 1-3 lần 1 tuần X 5 tuần

Sustanon 250mgr/ ống/ 2 tuần 1 ống X 3 tháng.

  • Dùng thuốc y học cổ truyền

Điều trị ngoại khoa

  • Nên xử trí phẫu thuật một số bệnh gây ảnh hưởng tới đời sống tinh trùng như :

Giãn tĩnh mạch tinh bằng phương pháp Ivanissevich 1 và 2.

Tinh hoàn trong ổ bụng.

Tinh hoàn không xuống bìu.

Nước màng tinh hoàn.

Thoát vị bẹn.

  • Nối ống dẫn tinh :

Phương pháp nối tận – tận cho kết quả rất tốt (2)

  • Nối ống dẫn tinh – mào tinh hoàn :

Phương pháp cho kết quả tốt.

  • Tạo hình ống dẫn tinh :

Trong các trường hợp một số bệnh bẩm sinh như teo hoặc không có ống dẫn tinh. Kết quả phẫu thuật còn phải tiếp tục theo dõi trước khi kết luận.

  • Tạo hình túi nang nhân tạo để chứa tinh trùng. Từ túi nang đó, chọc hút tinh trùng để thụ tinh nhân tạo cho vợ hoặc thụ tinh trong ống nghiệm.

Kết quả chưa tốt lắm vì túi nang nhân tạo đó chưa có đủ các điều kiện để nuôi dưỡng tinh trùng như ở túi tinh. Kết quả phần lớn tinh trùng trong túi nang nhân tạo bị chết cho nên kết quả của phẫu thuật này cần phải nghiên cứu tiếp tục.

  • Cắt nội soi mở rộng ụ núi (veru montanum) hoặc mở rộng cổ túi tinh trong những trường hợp bị chít hẹp không bài xuất được tinh dịch.

Các phương pháp điều trị khác

  • Thụ tinh nhân tạo bằng tinh dịch của chồng trong những trường hợp bị rối loạn cương dương hoặc quá ít tinh trùng. Tinh dịch được tích luỹ, bảo quản trong các ngân hàng tinh trùng rồi hàng tháng, đúng ngày rụng trứng, bơm vào cổ tử cung người vợ.
  • Thụ tinh nhân tạo bởi tinh dịch của người cho đã được bảo quản tại các ngân hàng tinh trùng. Dùng phương pháp này trong những trường hợp người chồng hoàn toàn không có tinh trùng.
  • Thụ thai trong ống nghiệm bằng tinh trùng và trứng của chính cặp vợ chồng đó.

Phương pháp này đã làm phổ biến trên thế giới. Tại Việt Nam đã bắt đầu thành công khi tiến hành.

KẾT LUẬN

Vô sinh nam giới là một bệnh mang tính xã hội gây ra nhiều bi kịch cho các gia đình. Việc chẩn đoán tìm ra đúng nguyên nhân gây bệnh rất phức tạp đòi hỏi có sự cộng tác của nhiều chuyên ngành trong y học. Kết quả của việc điều trị vô sinh nam giới ở nước ta cũng đang ở giai đoạn khởi đầu.

Đây là một vấn đề cần được sự quan tâm của cộng đồng.

BÌNH LUẬN

Nhập nội dung bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.