Chữa Cảm Cúm bằng thuốc Đông Y có hiệu quả không?

Cúm là 1 bệnh do khí hậu trái mùa gây nên, có tính chất truyền nhiễm lây lan sách gọi là bệnh Thương phong, phong ôn nay gọi Là hành tính cảm mạo.
Nguyên nhân:
Độc khí của thời tiết theo hô hấp vào phổi, làm cho chức năng phổi rối loan gây nên bệnh.
Triệu chứng:
Có Biểu chứng và Lý chứng.
a) Biểu chứng:
Sợ lạnh, sợ gió, phát sốt hay chưa phát sốt, nhức đầu, bắt hơi, nhay mũi, nghẹt mũi hoặc sổ mũi, nước mắt ràn rụa, ngứa cổ, ho, rêu lưỡi trắng mong, mạch phù, sác, tứ chi mỏi mệt, cơ thể đau nhức, có khi tay chân có giật, đó là đặc điểm của bệnh Cúm.

Cách chữa:
Tán phong hàn để giải biểu, dùng bài Hương tô tán gia vị.
Tử tô 10 lá
Dây trầu rừng 10g
Kinh giới 10g
Hành tăm 10g
Gừng tươi 3 lát
Củ gấu (cỏ cú) 10g
Cam thảo đất 10g
Mạn kinh 10g
Lá tắt vàng 7 lá rang hạ thổ.
Các vị sắc uống.
b) Lý chứng:
Sốt cao, khỏng sợ lạnh, mũi khô, rêu lưỡi vàng, bụng đầy, tiểu tiện vàng, mạch trường hoặc hồng sác.
Phép chữa:
Phải thanh lợi hoặc hạ lợi để trừ nhiệt tà bắt đầu vào vị.

Phương thuốc:
Nên dùng Đại thừa khí thang để trục bỏ nhiệt tà ở vị cho nhanh chóng. Nếu không có các vị thuốc của Đại thừa khí thang, thời dùng toa căn bản gia giảm tăng những vị thuận lợi.
“Đại thừa khí thang”
Đại hoàng 8g
Chì thực 4g
Hậu phác 4g
Mang tiêu 4g
Các vị sắc uống, hễ thấy đại tiện lợi được rồi thời không uống lần thứ hai. Nếu người yếu giảm xuống 1 nửa liều lượng.
“Toa căn bản gia giảm”
Rau má 20g
cỏ man châu 15g
Rễ tranh 10g
Dây mơ 20g
Cam thảo đất 10g
Gừng tươi 3 lát
Cỏ nhọ nồi 15g
Củ chút chít 10g
Các vị sắc uống.
Nhận xét:
– Bệnh cúm theo “Ôn bệnh tân biên” thời bệnh nầy khi phát ra có tân cảm và phục tà, tân cảm là do mới cảm nhiễm khí của thời tiết mà xuất hiện ra các biểu chứng; còn phục tà là do tà khí cảm đã lâu ẩn nấp trong cơ thể hóa thành nhiệt, nên phát ra các lý chứng, do đó khi gặp bệnh thấy có biểu chứng và lý chứng lẫn lộn, chứ không mấy khi gặp những trường hợp biểu chứng và lý chứng xuất hiện theo thứ tự biểu trước lý sau, nên trong khi chữa cần phải tùy cơ ứng biến. Nếu biểu chứng nhiều như đau đầu, sợ lạnh, phát sốt, nhức mình, ho, sổ mũi, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch phù thời dùng bài Hương tô tán gia vị, gia giảm cho đối chứng. Nếu lý chứng nhiều như sốt cao, đau đầu, không sợ lạnh, ho hen, môi khô, rêu lưỡi trắng vàng chất lưỡi đỏ. mạnh phù sác, V.V…. thời dùng bài Ngân kiều tán gia giảm cho đối chứng.

“Ngân kiêu tán”
Kim ngân hoa 12g
Ngưu hàng 6g
Bạc hà 15 lá
Liên kiều 8g
Đạm đậu sị 10g
Cát cánh 4g
Lá tre 10 lá
Cam thảo 4g
Kinh giới 10g
Nếu trường hợp biểu chứng lý chứng đều có, thời tôi thường dùng bài Đạt nguvên tán. Tam tiêu ẩm của Ngô Hựu Khả, hoặc bài Nhân sâm bại độc thang, tùy chứng gia giảm cho đối chứng đêu thu kết quả tốt.
“Đạt nguyên tán”
Hoàng cầm 8g
Hạt cau 6g
Hậu phác 6g
Bạch thược 6g
Tri mẫu 3g
Gừng tươi 3 lát
Thảo quả 2g
“Tam tiêu ẩm”
Hoàng cầm 8g
Tri mẫu 3g
Khương hoạt 8g
Bạch thược 10g
Hạt can 8g
Đại táo 3 quả
Hậu phác 5g
Sài hồ 8g
Gừng tươi 3 lát
lát Cát căn 3g
Cam thảo 4g
“Nhân sâm bại độc thang”
Khương hoạt 8g
Xuyên khung 5g
Chỉ xác 4g
Độc hoạt 8g
Bạch linh 8g
Cam thảo 4g
Tiền hồ 12g
Đáng sâm 8g
Sài hồ 8g
Đại táo 3 quả
Cát cánh 5g
Gừng tươi 3 lát
Nay nêu lên một số bệnh án đẽ chứng minh tác dụng tốt cúa bài Ngân kiều tán và Nhân sâm bại độc thang ở phần sau.

Lương Y Việt Hà