KHÍ GIAO BIẾN LUẬN THIÊN

KINH VĂN

KHÍ GIAO BIẾN LUẬN THIÊN
KHÍ GIAO BIẾN LUẬN THIÊN

Hoàng Đế hỏi:

Năm vận thay đổi để chù về năm, trên ứng vói “thiên cơ” (cơ là năm); hàn thử nối nhau; chân tà cùng gặp. Nội ngoại phân ly; sáu kinh thay đổi, năm khí lần lượt, thái quá và bất cập, chuyên thắng và kiêm tinh. Xin cho biết rõ nguyên ủy ra làm sao?(1)

Kỳ Bá thưa rằng:

Cần phải hiểu rõ khí và Vị. Vị ờ trên trời là thiên văn; Vị ở dưới đất là địa lý; suốt với sự biến hóa cùa nhân khí, là nhân sự (việc cùa người. Hợp với trên là thiên vãn, địa lý, nhân sự). Cho nên thái quá là đến trước thiên thời, bất cập là đến sau thiên thời. Do sự biến hóa đó, mà con người cũng ứng theo(2).

Hoàng Đế hỏi:

Sự hóa của năm vận, thái quá như thế nào?

Kỳ Bá thưa rằng:

Tuế thuộc Mộc mà thái quá, thì phong khí sẽ tràn lan; do đó, nó sẽ chế thắng Thổ khí, người sẽ ứng theo đó mà mắc bệnh ở Tỳ. Xôn tiết, ăn sút, thân thể nặng nề. phiền oan, trường minh, phúc chi mãn; ở trên thì ứng với Tuế tinh(3).

Nếu bệnh nặng thì thưòng thường hay nộ, hoa mắt, chóng mặt, thuộc về chứng trạng ở đầu(4).

KHÍ GIAO BIẾN LUẬN THIÊN
KHÍ GIAO BIẾN LUẬN THIÊN

Hóa khí không thi hành được chính lệnh, sinh khí một mình phát triển, khiến cho mây khói tung bay, cỏ cây khôn lặng… Gây nên các chứng hiếp thống và thổ nhiều. Nếu mạch ở xung dương mà tuyệt sẽ chết, không thể chữa. Trên ứng với sao Thái bạch(5).

Tuế thuộc Hỏa mà thái quá, thì khí nóng tràn lan, khiến Kim Phế thụ tà, con người cũng phải ứng theo mà phát bệnh ngược (sốt rét, úi), thiểu khí, khải, suyễn, huyết giật, huyết tiết, chú bạ, ách táo (cuống họng ráo), tai điếc, trung nhiệt (nóng ở trong bụng); vai và lưng nhiệt; trên ứng với sao Huỳnh hoặc(6).

Nếu quá lắm thì trong hung đau, hiếp chi mãn và đau ức, vai, cánh tay đều đau, mình nóng, xương đau, rồi biến thành tẩm râm(7).

KHÍ GIAO BIẾN LUẬN THIÊN
KHÍ GIAO BIẾN LUẬN THIÊN

Cái khí thâu llễm không lưu hành, cái khí sinh trưởng riêng phát triển mưa nhiều, sương xuống, trên ứng với thần linh(8).

Nếu thượng lâm Thiếu âm, Thiếu dương, thì lửa bốc nóng, suối nước cạn, mọi vật khô khan(9).

Bệnh lại phát ra thiềm vong, cuồng tẩu, suyễn, khái, thở thành tiếng; bách xuống thành huyết tiết; tiết tà không dứt; mạch Thái uyên tuyệt, sẽ chết, không thể chữa. Trên ứng với sao Huỳnh hoặc(10).

Tuế Thổ thuộc thải quá, thỉ mưa nhiều, khí ẩm thấp tràn lan. Con người cũng ứng theo, khiến Thận thủy bị tà, gây nên phúc thống, lãnh quyết, ý buồn bã không được vui, thân thể nặng nề, phiền oan. Trên ứng với Chấn tinh(11).

Quá lắm thì thành ra cơ nhục nhão, chân yếu không tự cử động được (nuy); dưới chân đau; ăn uống kém sút, phúc mãn; tứ chi rã rời, biến sinh giữa khí đắc Vị(12).

KHÍ GIAO BIẾN LUẬN THIÊN
KHÍ GIAO BIẾN LUẬN THIÊN

Tàng khí bị phục, hóa khí làm chủ, sông nước tràn ngập, đầm khô có cá; mưa gió tơi bời, thối đất nát cỏ; cá tép lên cạn; phúc mãn, đường tiết; trường minh (bụng sôi), tà nhiều; nếu Thái khê mạch tuvệt sẽ chết, không thể chữa. Trên ứng với Tuế tinh(13).

Tuế Kim thuộc thái quá, táo khí lưu hành, do đó Mộc sẽ thụ tà. Con người cũng ứng theo mà lưỡng hiếp và Thiếu phúc đau, mắt đỏ và đau; tai không nghe tiếng; khí túc sái càng lắm, khiến thân thể nặng nề và phiền oan; hung đau rút sang lưng; hai hiếp mãn và đau rút xuống Thiếu phúc, trên ứng với sao Thái bạch(14).

Quá lắm thì khái, suyễn và nghịch khí, kiên và bối đau; cầu âm (xương khu), cổ (vế), tất (gối), bễ (đùi), hành (ống chân) đều mắc bệnh, trên ứng với sao Huỳnh hoặc(15).

KHÍ GIAO BIẾN LUẬN THIÊN
KHÍ GIAO BIẾN LUẬN THIÊN

Thâm khí mạnh quá, sinh khí bị nhục, cỏ cây xơ xác vàng rụng; gây thêm bệnh bạo thống ờ hai hiếp, không thể trở mình, khái nghịch, quá lắm thì huyết ràn. Thái xung mạch tuyệt, chết, không thể chữa. Trên ứng với sao Thái bạch(16).

Tuế Thủy thuộc thái quá, thì hàn khí lưu hành, tà sẽ làm hại Tâm hỏa. Con người cũng ứng theo mà mắc bệnh thân nhiệt, phiền Tâm, táo và quý; âm quyết cả trên dưới; trung hàn; thỉềm vọng, Tâm thống. Hàn khí đến sớm, trên ứng với Thần tinh(17).

Quá lắm thì phúc đại, hĩnh thũng (xương ống chân sưng); suyễn, khải; khí nằm hãn ra, ghét gió. Mưa to đến mây mù đen dặc. Trên ứng với Chấn tinh(18).

Thượng lâm Thái dương, mưa đá, thỉnh thoảng tuyết sương giáng xuống; thấp khí làm biến mọi vật; bệnh lại sinh ra phúc mãn; trường minh, đường tiết; ăn không tiêu, khát, hay chóng mặt. Thần môn mạch tuyệt, sẽ chết, không thể chữa. Trên ứng với sao Huỳnh hoặc(19).

KHÍ GIAO BIẾN LUẬN THIÊN
KHÍ GIAO BIẾN LUẬN THIÊN

Hoàng Đế hỏi:

về các năm bất cập, thì như thế nào?

Kỳ Bá thưa rằng:

Tuế Mộc bất cập thì táo khí sẽ đại hành. Con người cũng ứng theo đỏ mà mắc bệnh trung thanh (lạnh ở bên trong). Khư hiếp đau, Thiếu phúc đau, trưòng minh, đường tiết, thường có lương vũ. Trên ứng với sao Thái bạch(20).

Nếu thượng lâm Dương minh, thì sinh khí sẽ mất sự phát triển; trên ứng với Thái bạch và Chấn tinh(21).

Neu “phục” thì nóng bức bội thường, sẽ phát các chứng hàn, nhiệt, sương, dương, phí, chẩn, ung, tòa v.v. Trên ứng với sao Huỳnh hoặc(22).

Bạch lộ giáng sớm, khí thâu sái lưu hành; Tỳ thổ thự tà, “xích khí” hóa sau, Tâm khí vãn trị, trên thắng Phế kim “bạch khí” sẽ bị khuất. Do đó phát chứng “cừu” và khái(23).

KHÍ GIAO BIẾN LUẬN THIÊN
KHÍ GIAO BIẾN LUẬN THIÊN

Tuể Hỏa bất cập, hàn khí đại hành, cái chính lệnh sinh trưỏng không thể thi dụng. Con người cũng ứng theo đó mà mắc bệnh hung trung thống, hiếp chi mãn, lưỡng hiếp thống; ưng, bối, kiên, bễ, hai cánh tay đau; uất mạo, mông muội, Tâm thông, bạo ấm (bỗng dưng

miệng không nói được); phúc đại, dưới hiếp và yêu, bối cùng rút mà đau quá lắm thì co vào không duỗi ra được. Trên ứng với sao Huỳnh hoặc(24).

“Phục” thì khí bốc mù mịt, thường có mưa to, hắc khí thụt xuống (hắc khí là thủy); người mắc bệnh đại tiện phân sống, phúc mãn, ăn uống không được; hàn trung (lạnh bên trong), sôi bụng; tà mạnh, bụng đau; bạo loạn (co gân) và nuy tý; chân đi không vững. Trên ứng với Chấn tinh và Thần tinh(25).

KHÍ GIAO BIẾN LUẬN THIÊN
KHÍ GIAO BIẾN LUẬN THIÊN

Tuế Thổ bất cập phong khí sẽ đại hành. Hóa khí không thi hành được chính lệnh. Con người cũng ứng theo mà sinh chứng sôn tiết, Hoắc loạn, cân cốt dao động (gân xương lay động, co giật), cơ nhục nhuận (cùng ờ trong thịt), toan (nhức âm ỷ), hay nộ; Tàng khí làm việc, người mắc chứng hàn trung trên ứng với Tuế tinh, Chấn tinh(26).

“Phục” thì cái chính lệnh thâu liễm gắt gao khiến người hung, hiếp bạo thống, rút xuống Thiếu phúc; hay thở dài, khi khách vào Tỳ, ăn uống kém sút mà không biết ngon(27).

“Thượng lâm” Quyết âm; Tàng khí không hiệu dụng được bạch khí do đó không phục, dân được vên toàn(28).

Tuế Kim bất cập, viêm hỏa sẽ lưu hành, sinh khí do đó dụng được trưởng khí để chuyên thắng, con người cũng ứng theo đó mà phát bệnh, đau ờ kiến bổi, đầu cứ muốn quỵ xuống, hay hắt hơi, đại tiện ra huyết, khí thâu liềm mãi về sau mới phát triển. Trên ứng với sao Thái bạch(29).

KHÍ GIAO BIẾN LUẬN THIÊN
KHÍ GIAO BIẾN LUẬN THIÊN

Nếu “phục” thì mưa lạnh trút xuống, sương tuyết làm hại vật, âm quyết và cách dương, dương lại bốc lên, đầu và não bộ đau, xuất lên đinh đầu (buốt óc), phát nhiệt, lại thêm chứng lở miệng, quá lắm thì Tâm thổng(30).

Tuế Thủy bất cập, thấp khí sẽ đại hành; trưởng khí do đó đắc dụng, hóa cùa Thổ lại hóa ra nhanh chóng(31).

Con ngưòi cũng ứng theo mà phát bệnh phúc mãn Thận trọng, nhu tiết (đi tháo); hàn thương (mụn) chỉ vỡ ra nước trong; yêu và cổ (đùi) đều đau; đùi, vế buồn bực; túc nuy giá lạnh, dưới chân đau, quá lắm thì mu chân sưng lên. Tàng khí không thi hành được chính lệnh, Thận khí không giữ được quân bình, trên ứng với Thần tinh(31).

Thượng lâm Thái âm thì có đại hàn luôn. Người sẽ mắc phải hàn tật, quá lắm thì phúc mãn, phù thũng trên ứng với Chấn tinh(32).

KHÍ GIAO BIẾN LUẬN THIÊN
KHÍ GIAO BIẾN LUẬN THIÊN

“Phục” thì gió to kéo đến, cây cối đổ gẫy, sắc mặt thường biến, gân xương đều đau, thịt rùng và co rút, mắt trông tờ mờ, khí dồn lên cách, Tâm phúc đều đau. Trên ứng với Tuế tinh(33).

Hoàng Đế hỏi:

Xin cho biết sự thắng phục của bốn mùa như thế nào?

Kỳ Bá thưa rằng:

Mộc bất cập: Mùa xuân có cái cảnh ấm áp êm đềm, thì mùa thu sẽ có cái lệnh móc sương mát mẻ. Nếu mùa xuân gặp cái khí thảm thê, tàn tặc, thì mùa hạ sẽ có cái cảnh nung nạu oi ả. Tai sảnh sẽ phát từ phưong Đông; ở Tàng con người sẽ là Can. Nếu bệnh phát ở bên trong sẽ tại khư hiếp, ở bên ngoài sẽ tại quan tiểt(34).

Hỏa bất cập: Mùa hạ có cái đức hóa sáng tỏ, rõ ràng, thì mùa đông sẽ có cái lệnh sương hàn lạnh lẽo. Mùa hạ nếu lại có cái khí đìu hiu rét mướt, thì không chừng sẽ xảy ra mưa to tầm tã. Tai sành sẽ phát từ phương Nam; ở Tàng con người sẽ là Tâm. Bệnh phát, bên trong sẽ ở ưng, hiếp, bên ngoài sẽ ở kinh, Lạc(35).

KHÍ GIAO BIẾN LUẬN THIÊN
KHÍ GIAO BIẾN LUẬN THIÊN

Thổ bất cập: Tử duy (tức Thổ) có cái đức hóa mây mái thấm nhuần, thì mùa xuân sẽ có cái chính lệnh gió lay lả lưót. Nếu tức duy có sự biến, gãy cành, trốc gốc, thi mùa thu sẽ có sự phục hiu hắt mưa dầm. Tai sành xảy ra ở tứ duy; ở Tàng là Tỳ. Bệnh phát bên trong thì ở Tầm phúc, bên ngoài thì ở cơ nhục và tứ chi(36).

Kim bất cập: Mùa hạ có cái lệnh nắng nỏ, mưa nhuần, thì mùa đông có cái ứng sương sa, gió rét. Nếu mùa hạ có sự biến, tan đá chày vàng, thì mùa thu sẽ có sự phục sương băng, mưa đá. Tai sành xảy ra ở phương Tây; ở Tàng con người là Phế. Bệnh phát ở bên trong ưng, hiếp, kiên, bối, ở bên ngoài là bì mao.

KHÍ GIAO BIẾN LUẬN THIÊN
KHÍ GIAO BIẾN LUẬN THIÊN

Thủy bất cập: Tứ duy có cái sự hóa mưa nhuần thấm thìa, thì bất thời sẽ có sự ứng gió hòa nảy nở. Tứ duy có cái sự biến mưa dầm tầm tã, thì bất thời sẽ có sự phục gió bão sương mù. Tai sảnh xảy ra ở phương Bắc; ờ Tàng con người là Thận. Bệnh phát, ở bên trong yêu, tích cốt, tủy, ở bên ngoài là khê, cốc xuyền (xương óng), tất (xương gối).

Dại phàm, cái chính lệnh cùa năm vận, cũng như cán cân. Quá cao thì hạ thấp bót xuống, quá thấp thì nâng cho cao lên. Nếu hóa thì ứng, nếu biến thì phục. Đó là cái lý trưởng, sinh, thành, hóa, thâu, Tàng, và là cái bình thường cùa khí. Nếu trải với lẽ thường đó, thì cái khí cùa trời đất và bốn mùa, sẽ bị vít lấp(37).

Cho nên nói: Sự động tĩnh cùa trời đất, thần minh làm cương kỷ; sự vãng phục cùa âm dương, hàn thử làm chứng triệu. Tức là lẽ đó(38).

Hoàng Đế nói rằng:

– Phu Tử nói về sư biển cùa năm khí và sự ứng cùa bổn mùa, thật đã rõ ràng. Nhưng mỗi khi khí biến động, phát tác không có thường hội, thốt nhiên mà tai hại đến. Có thể dự kỳ được không?

KHÍ GIAO BIẾN LUẬN THIÊN
KHÍ GIAO BIẾN LUẬN THIÊN

Kỳ Bá thưa rằng:

Sự biến động của trời đất, vốn không có nhất định, nhưng do đức, hóa, chính lệnh. Nên tai biến không giống nhau cỏ thể nhậrv xét được.

Vậy là nghĩa sao?

Đông phương sinh ra phong; phong sinh ra Mộc; đức của nó là êm hòa; hoá cùa nó là sinh tươi; chính của nó là mở mang; lệnh cùa nó là phong; sự biến của nó là gió mạnh; tai hại cùa nó là rơi rụng (vì ỏ’ trên cỏ nói: Đức, chính, lệnh, biến, tai. Nên ở mùa nào cũng giải đủ sáu diều kiện ấy. Đó cũng là một thể tài của văn cổ).

Nam phương sinh nhiệt; nhiệt sinh ra Hỏa ; đức của nó là sáng tỏ; hóa cùa nó là rậm tốt (mùa hạ cây cỏ rậm tốt); chính cùa nó là minh diệu (cũng như sáng tỏ, đều là cái tính chất cùa hòa); bệnh cùa nó là nhiệt; sự biển cùa nó là tiêu thước; tai hại cùa nó là đốt cháy.

Trung ương sinh ra thấp; thấp sinh ra Thổ; đức cùa nó là ẩm ưót; hóa cùa nó là đầy đù; chính cùa nó là an tĩnh; lệnh cùa nó là nhiệt; sự biến cùa nó là sậu chú (mưa to như trút nước); tai hại cùa nó là lâm hội (mưa dầm nát đất, thối cỏ).

KHÍ GIAO BIẾN LUẬN THIÊN
KHÍ GIAO BIẾN LUẬN THIÊN

Tây phưong sinh táo; táo sinh ra Kim; đức của nó là thanh khiết (trong trèo, sạch sẽ); hóa cùa nỏ là thâu liễm (hanh hái thâu liễm); chính của nó là kính thiết (cứng cỏi); lệnh cùa nó là táo; biến cùa nó là túc sái; tai hại cùa nó là thương vẫn (vàng úa, rơi rụng).

Bắc phưorig sinh ra hàn; hàn sinh ra Thủy; dức của nó là lạnh lẽo; hóa cùa nó là yên lặng; chính cùa nó là ngưng túc (đóng lại, giá lạnh); bệnh của nó là hàn; sự biến cùa nỏ là lẫm lạt (rét run); tai hại của nó là băng bộc sương tuyết (băng: nước rắn lại như đá; bộc: mưa đá).

Vậy ta chỉ xét ỏ’ sự “động” đó, cũng có đù “đức, hóa, chính, bệnh, biển, tai” Muôn vật đều theo, mà người cũng không ra khỏi phạm vi đó(39).

Hoàng Đế nói:

Phu Tử nói: về tuế, “hậu” ở thái quá và bất cập, mà trên ứng với ngũ tinh. Giờ như: Đức, hóa, chính, lệnh, tai, sảnh, biến, dịch… không phải là sự có thường. Nếu thốt nhiên mà động, đối với ngũ tinh, có biến dịch không?

Kỳ Bá thưa rằng:

Theo thiên vận để thi hành, nên không có vọng, động. Hết thảy đều có ứng. Nếu thốt nhiên mà động là sự giao biến cùa khí. Cũng có khi không ứng. Cho nên có câu nói: “Chỉ ứng với sự thường, không ứng với sự thốt nhiên”. Tức là nghĩa đó(40).

KHÍ GIAO BIẾN LUẬN THIÊN
KHÍ GIAO BIẾN LUẬN THIÊN

Hoàng Đế hỏi:

Sự ứng như thế nào?

Kỳ Bá thưa rằng:

Đều theo về khí hóa(41). Cho nên tuế vận thái quá, thì úy tinh thất sắc và lây tới cả mẹ nó. Nếu bất cập thì sắc cũng kiêm cả “sở bất thắng(42).

Hoàng Đế hỏi:

Sự động, tĩnh, tổn, ích cùa dức, hóa, chính, lệnh, như thế nào?

Kỳ Bá thưa rằng:

Đức, hóa, chính, lệnh, tai biến, không thể xen lẫn vào nhau(43). Thắng, phục, thịnh, suy không thể làm cho thêm hưn(44). Vãng, lai, đại, tiểu, không thể bỏ lỡ(45). Cái hiệu dụng về sự thăng giáng, không thể nào không cỏ(46). Đều do ờ sự dộng mà báo phục đó thôi(47).

KHÍ GIAO BIẾN LUẬN THIÊN
KHÍ GIAO BIẾN LUẬN THIÊN

Hoàng Đế hỏi:

Bệnh sinh ra như thế nào?

Kỳ Bá thưa rằng:

Khí tương thắng thì hòa, không tương thắng thì bệnh; lại cảm thêm tà khí, thì nặng(48).

CHÚ GIẢI:

Thiên cơ tức là 365 ngày ứng với 365 độ cùa Chu thiên. Chân, tức là đức hóa hay; tà, tức là biển dịch hại. Nội ngoại tức là biểu, lý; sáu kinh tức là Tam âm, Tam dương. Năm khí tức là khí cùa năm Tàng. Chuyên thắng tức là cái năm thái quá bất cập, cái khí đã thẳng thì thắng mãi; kiêm tinh tức là hal khí cùng dồn lại. “Khí, Vị” tức là sáu khí và năm vận, đều có cái định vị về việc tư thiên, kỷ địa, chủ tuế, chù thời. Người ờ trong khoảng khí giao cùa trời đất, theo sự biến hóa cùa âm dương và bốn mùa đó là nhân sự. Cho nên vận khí mà thái quá, là do cái khí cùa bổn mùa, trước mùa mà đến; còn bất cập, là sau mùa mới đến, sự biến hóa của bốn mùa như vậy, người cũng ứng theo, không ra được ngoài phạm vi.

(3) Xôn tiết, trường minh, phúc mãn v.v. Đều là các chứng hậu cùa Tỳ thổ, Tỳ chù về cơ nhục và tứ chi, cho nên thân thể nặng nề. Phiền oan là buồn bực, khó chịu. Vì Thổ bị thương không chế dược Thủy, khiến Thủy khí ngược phạm lên Tâm, nên hóa như vậy. Trên úng với Tuế tinh tức là Mộc tinh, vì Mộc vận chủ tuế mà thái quá, nên Tuế tinh sẽ sáng tỏ hơn mọi năm.

KHÍ GIAO BIẾN LUẬN THIÊN
KHÍ GIAO BIẾN LUẬN THIÊN

(4) Vì Quyết âm với Đốc mạch đều tụ hội ở đầu, nên phát bệnh ờ đầu.

(5) “Hóa khí” tức là cái khí căn bàn cùa mọi sự sinh hóa, tức là Thổ khí. Vì phong Mộc thái quá, khiến Thổ khí không còn phát triển dược chính lệnh của mình. Duy có sinh khí là phong Mộc một mình hoành hành. Phong thăng thì dộng, nên cây không yên lặng, mây khí tung bay. Người cũng ứng theo đó, mà sinh ra cái chứng hiếp thống và thổ v.v. Xung dương là mạch cùa Vị. Vì Mộc râm (phạm) khiến cho Thổ khí bị tuyệt, nên mới là chứng bệnh không thể chữa. Thái bạch tức là Kim tinh. Bởi tuế vận thái quá thì úy tinh thät säe mä läy tai cä nie. Nhu Möc vän thäi quä, thi Chan tinh thất sắc, vi sao thuoc Höa lä Huynh hoäc cüng khöng cön änh sang. Cho nên Thái bach lai được hiện ra để thắng lai nai gốc. Do lä sir “thü’a, che” län nhau, düng von le tu nhien väy.

Hỏa thắng thi khắc Kim, cho nen Phe kirn thu tä. Hai nguge, möt chüng do thu, nhiet phät sinh. Trdng höa läm hai khi, nen thieu khi; Phe bj Höa nhiet, nen suyön, khäi Phe lä nai tu hoi cüa cäc mach; duang mach bi tlurang, nen huyet rän len tren; am mach bi thirang, nen huyet tiet xuöng duai (do dai, tieu). Phe lä ngon nguön sinh ra Thüy, vay cuöng hong räo lä do Höa nhiet hun len Phe; Thän khai khieu len tai, vi thüy nguyen kiet, khien Thän hu mä sinh tai diec; Trung nhiet lä böi khi nhiet pham väo trong; kien böi nhiet, vi dö lä Phe du. Hinh hoäc lä Höa tinh. Höa khi thäng nen tren üng väo nö. Tat nö se sang tö han len, vi lä höa vän thäi quä. Dö chinh lä vän nien thuoc cäc näm Mäu.

KHÍ GIAO BIẾN LUẬN THIÊN
KHÍ GIAO BIẾN LUẬN THIÊN

Ở trong hung, hung, lä nai cung thänh cüa quän chü. Böi thuoc duang. Tarn lä Thäi duang ö trong duang. Cho nen trong hung vä lung, vai, cänh tay deu dau. Thü Thieu am Tarn mach dän ra ö duai hiep, qua cänh tay tai khuyu röi tai bong tay… Vi the nen hiep chi man vä dau, cänh tay dau. Minh nöng, xuang dau lä vi Höa “cang” mä Thüy cüng bi tlurang. Tarn räm lä mgt chüng mun lör phät sinh beri Höa. Kim Quy nöi: “Chüng tarn räm phät sinh tür xung quanh mieng röi läy ra tu chi thi cö the clura; neu tü tu chi röi meri läy väo tai xung quanh mieng, thi khöng the chüa.

Dây nói ve Kim khi uät mä thüy khi phuc. Thän tinh tue lä Thüy tinh. Gäp truöng hgp dö, Thüy tinh se sang tö.

(9‘ “Thugng läm” tirc lä cäi khi Tu thien, “läm” len tue van, tue lä möt näm thuöc ve Thien plni. Vö näm Mäu Ty, Mäu Ngo, mä thugng läm Thieu am; vö näm Mäu Dan, Mäu Thän, mä thugng läm Thieu duang. Tu thien vcai tu! vän cüng hgp, höa khi cäng Cang, nen suöi nirac can mä muön vät khö khan.

KHÍ GIAO BIẾN LUẬN THIÊN
KHÍ GIAO BIẾN LUẬN THIÊN

An: Cäc duang nien chü v! thäi quä, cho nen chi cö nlurng näm Mäu Ty, Mäu Ngo, Mäu Dän, Mäu Thän vä Binh Thin, Binh Tuät lä mai cö tu thien thugng läm von tu! vän cüng hgp. Cön cäc näm thuöc ve Möc, Kim, Thö thi khöng cö thugng läm.

(10) Düng chü’ “benh lai pliäl ra” v.v. lä vi Höa Cang erre mä lai “tu tlurang”, nen mai phät cäc chüng nlursau: Thicm vong: nöi nie läm nhäm; cuồng tẩu tức rồ dại, chạy nhặng. Đó đều là biến chứng cùa bệnh nhiệt cực.

KHÍ GIAO BIẾN LUẬN THIÊN
KHÍ GIAO BIẾN LUẬN THIÊN

 

BÌNH LUẬN

Nhập nội dung bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.