Hoàng Tinh 黄精

Các bộ phận dùng làm thuốc
Thân rễ khô.
Tính vị:
Vị ngọt, tính chất trung tính.
Quy kinh:
Nó đi vào kinh tỳ, phế, thận.
Tác dụng
Bổ khí, dưỡng âm, tăng cường tỳ, dưỡng phế, bổ thận.
Chỉ định
Dùng cho các chứng tỳ vị khí hư, mệt mỏi, vị âm kém, miệng khô, chán ăn, phổi hư ho khan, ho ra máu do gắng sức, tinh huyết không đủ, đau lưng gối, tóc bạc sớm, nóng trong khát nước.
Các phối ngũ:
1. Chữa viêm gan mạn tính, mệt mỏi, chướng bụng, chán ăn, tiểu ít, ra mồ hôi nhiều, khô miệng: Đan sâm 30g, Hoàng tinh 25g, gạo nếp 25g, sắc nước uống. (Bản thảo cương mục)
2. Chữa các bệnh về mắt, bổ can khí, cải thiện thị lực: Mạn kinh tử 1 cân (rửa sạch), Hoàng tinh 2 cân(hấp chín lần với hạt củ cải), giã nhỏ các nguyên liệu trên, rây thành bột. Uống 2 cân (200g) bột này lúc bụng đói, trộn với cháo, sau bữa trưa và bữa tối uống với nước ấm. ” Mạn kinh tử tán” ( Thánh Huệ Phương).
Liều dùng
9~15g.
Bào chế:
Đào vào mùa xuân và mùa thu, loại bỏ rễ xơ, rửa sạch, chần qua nước sôi hoặc hấp cho đến khi chín kỹ rồi phơi khô.
Phương pháp chuẩn bị:

Hoàng Tĩnh ngâm rượu: Rửa sạch Hoàng Tĩnh, hầm hoặc hấp kỹ với rượu gạo. Để ráo nước, thái lát dày rồi phơi khô. Cứ 100kg Hoàng Tĩnh, dùng 20kg rượu gạo. Thái lát không đều, dày và bóng, phần giữa màu nâu đến nâu nhạt, có thể nhìn thấy gân. Thịt tương đối mềm, vị ngọt thanh, thoang thoảng mùi rượu.