
Sốt là một triệu chứng lâm sàng thường gặp ở trẻ em. Nguyên nhân gây sốt khác nhau, triệu chứng cũng biểu hiện đa dạng. Nói chung, sốt có thể chia thành hai loại lớn: ngoại cảm phát nhiệt và nội thương phát nhiệt.
Ngoại cảm phát nhiệt đa phần là do tà khí xâm nhập qua đường mũi họng hoặc qua da lông (bì mao) đi vào cơ thể. Trong khi đó, nội thương phát nhiệt đa phần là do sự mất cân bằng âm dương, khí huyết bên trong cơ thể gây nên.
-
Biện chứng trị liệu:
-
Đối với ngoại cảm phát nhiệt, nên lấy biện chứng Thương hàn làm tông chỉ dựa trên 6 kinh (Lục kinh), hoặc biện chứng Ôn bệnh dựa trên Vệ, Khí, Dinh, Huyết, và ba nhận định phân biệt.
-
Nguyên tắc điều trị đối với ngoại cảm phát nhiệt lấy khu tà (đẩy lùi tà khí) làm chủ, tức là mở đường cho tà khí thoát ra ngoài, như các phương pháp phát hãn giải biểu (cho ra mồ hôi để giải cảm), thanh lý (thanh nhiệt bên trong), công hạ (xổ/xả nhiệt).
-
Đối với nội thương phát nhiệt, lấy điều bổ làm chủ. Tùy theo sự suy giảm của khí huyết âm dương mà áp dụng các phương pháp điều dưỡng phù hợp, nhằm đạt lại sự cân bằng âm dương trong cơ thể.
-
Do bệnh lý sốt có nhiều diễn biến phức tạp, đặc điểm không cố định:
-
Như trường hợp cảm phải phong hàn, nếu không giải tỏa kịp thời có thể nhanh chóng biến chuyển thành nhiệt chứng, lý chứng;
-
Hoặc trường hợp ngoại cảm phong nhiệt, khí phân nhiệt thịnh, lý nhiệt tích tụ có thể biến thành dương minh thực chứng, v.v…
Thường thường, một triệu chứng vừa biến mất thì triệu chứng khác lại phát sinh. Do đó, việc biện chứng trị liệu trên lâm sàng đòi hỏi phải chính xác, rõ ràng, phối hợp linh hoạt để nắm bắt đúng thời cơ dùng thuốc. Làm được việc chứng biến, pháp biến, phương biến, dược biến (chứng thay đổi, phương pháp thay đổi, bài thuốc thay đổi, vị thuốc thay đổi) thì dù bệnh tình phát nhiệt có hung hiểm đến đâu cũng có thể ứng phó dễ dàng.
Đặc điểm sinh lý & Bệnh lý của trẻ nhỏ: Trẻ nhỏ có đặc điểm sinh lý và bệnh lý là “Tạng khí thanh linh” (tạng phủ trong sạch, linh hoạt), dễ biến đổi, dễ hư dễ thực, dễ hàn dễ nhiệt.
Do đó, trên cơ sở nắm vững nguyên tắc xua đuổi tà khí, người thầy thuốc cần thực hiện tốt ba mặt “Khinh” (nhẹ nhàng/vừa phải), “Chuẩn” (chính xác) và “Hoạt” (linh hoạt):
-
Khinh (Nhe): Dùng thuốc nên nhẹ nhàng phù hợp. Đặc biệt đối với chứng điều trị biểu nhiệt, nên dùng các vị thuốc thanh nhẹ giải biểu. Như dùng lông chim (ngụ ý vị thuốc nhẹ nhàng), tà khí có thể giải ra bên ngoài. Nếu dùng quá liều hoặc dùng thuốc quá nặng, chẳng hạn như dùng Hoàng liên, Thạch cao quá mức, hoặc vì sốt kèm giật mà dùng quá nhiều thuốc trấn kinh mạnh, sẽ khiến tà khí không thoát ra ngoài được. Một mặt làm tổn thương dạ dày, mặt khác làm tổn hại chính khí, khiến bệnh tình kéo dài khó chữa, chứng bệnh dễ biến đổi khôn lường.
-
Chuẩn (Chính xác):
-
Biện chứng phải chính xác: Phải làm rõ nguyên nhân gây bệnh, vị trí bệnh, chủ chứng, kèm chứng, từ đó mới điều trị trúng đích.
-
Dùng thuốc phải đúng liều lượng phân min (chính xác từng chút): Dù có các vị thuốc mạnh như Tiêu hoàng, Bàng tiêu, chỉ cần dùng đúng bệnh thì bệnh sẽ lui, khởi tử hồi sinh; nhưng nếu dùng quá tay, quá vội vàng hay trì trệ, đều dễ gây tổn thương.
-
-
Hoạt (Linh hoạt): Không được máy móc áp dụng các lối tư duy phân loại cố định, cũng không nên giữ khư khư bài thuốc cũ. Phải dựa vào “Tố định trị” (nắm vững quy luật) để ứng biến, dùng chứng luận chứng, dựa vào chứng định pháp, dựa vào pháp chọn phương, dựa vào phương chọn thuốc.
Dùng thuốc phải ứng biến linh hoạt. Đối với chứng tiểu nhi thường gặp như kèm đờm, kèm trệ, kèm kinh, cũng cần xem xét mức độ nặng nhẹ để điều trị.
-
Nếu phát nhiệt là chính: Lấy việc khu tà giải nhiệt làm chủ, phối hợp thêm một ít thuốc hóa đờm là đủ. Hầu hết chứng đờm lui thì sốt cũng hết, đây chính là nắm đúng mấu chốt giải quyết mâu thuẫn chính.
-
Nếu đờm nhiệt nặng: Chỉ giải biểu đơn thuần khó thành công, cần phối hợp thanh nhiệt tuyên phế.
-
Trường hợp kèm trệ: Phải dùng phương pháp tiêu đạo; nếu tà nhiệt hòa quyện với đờm, trệ, tích tụ lại thì cần dùng thuốc hạ nhiệt.
-
Đối với chứng kinh: Đều do nhiệt, đờm, trệ tích tụ lâu ngày sinh ra phong, do đó điều trị nên tùy theo nguyên nhân mà chữa, không được vội vàng dùng thuốc trấn kinh nặng làm ảnh hưởng tới việc xả tà.
【ĐIỀU TRỊ THEO THỂ BỆNH】
1. Ngoại Cảm Phát Sốt
(1) Phong Hàn Biểu Thực
-
Chủ chứng: Sốt không mồ hôi, sợ lạnh nặng, đau đầu thân thể đau mỏi, mũi nghẹt thở khò khè, rêu lưỡi mỏng trắng, mạch phù khẩn, đại tiểu tiện tự điều hòa.
-
Phân tích chứng trạng: Cảm thụ tà khí phong hàn, bó trệ ở cơ biểu làm lỗ chân lông đóng lại nên phát sốt, sợ lạnh, không mồ hôi; tà khí phong hàn xâm nhập kinh lạc gây đau đầu, đau mỏi toàn thân; phế khí không tuyên thông gây nghẹt mũi, ho, thở khò khè.
-
Trị pháp: Tân ôn giải biểu.
-
Phương thuốc: Ma Hoàng Thang làm chủ: Ma hoàng, Hạnh nhân, Quế chi, Cam thảo chín. Có thể gia Kinh giới, Phòng phong, Đạm đậu xị.
-
Gia giảm theo triệu chứng:
-
Kèm ho đờm nhiều: Gia Tử uyển, Khương Bán hạ, Đông hoa, Kim ph沸 thảo (Kim沸 thảo).
-
Kèm thực tích trệ: Gia Hậu phác, Cốt sao bối (Sao Bối tử), Trần bì.
-
(2) Phong Hàn Biểu Hư
-
Chủ chứng: Phát sốt không cao, ra mồ hôi sợ gió, da mặt không tươi, rêu lưỡi mỏng trắng, mạch phù hoãn, đại tiểu tiện tự điều hòa.
-
Phân tích chứng trạng: Bệnh nhi vốn thể chất yếu, tự hãn (ra mồ hôi) ít ăn, dễ cảm thụ tà phong hàn. Dinh vệ không hòa, vệ dương không vững bên ngoài, Dinh âm không giữ bên trong, do đó phát sốt, ra mồ hôi, sợ gió.
-
Trị pháp: Giải cơ hòa đắng.
-
Phương thuốc: Quế Chi Thang làm chủ: Quế chi, Bạch thược, Sinh khương, Hồng táo, Cam thảo chín.
-
Gia giảm theo triệu chứng:
-
Phát sốt thiên về cao: Gia Kinh giới, Phòng phong, Tô diệp, Đạm đậu xị.
-
Ho gia Trần bì, Khương Bán hạ, Tử uyển, Hạnh nhân.
-
Kèm tích trệ: Gia Sơn tra, Cốc nha.
-
Trích sách “Đổng Thị nhi khoa” NXB Trung Y trung dược xb xã (3/12/2013)