Để cho việc điều trị có kết quả, cần nắm vững một số nguyên tắc chung :

Loading...
  • Rối loạn cương dương có rất nhiều nguyên nhân gây ra : Nội tiết, thần kinh, tâm lý, tinh thần, mạch máu, biến dạng hình thể giải phẫu.
  • Việc chẩn đoán để tìm ra nguyên nhân cụ thể ở từng bệnh nhân là một khâu hết sức quan trọng. Từ đó mới có thể đề xuất một phương pháp điều trị tối ưu. Không thể có một phương án duy nhất nào điều trị được tất cả các loại rối loạn cương dương.
  • Dù bất kỳ nguyên nhân nào, bệnh nhân cũng đều kèm theo một mặc cảm tâm lý hết sức nặng nề. Xoá bỏ được những ám ảnh tâm lý đó là một điều hết sức cần lưu ý.
  • Việc điều trị cần phải đơn giản, phù hợp với tâm lý muốn dấu bệnh, ít sang chấn, không gây đau đớn, ít tác dụng phụ và có hiệu quả.

Điều trị nội khoa

Dùng tâm lý liệu pháp

  • Bất cứ phương pháp gì gây được sự tin tưởng và xoá bỏ được những mặc cảm bất lực của người bệnh đều có thể sử dụng
  • Thời xa xưa người ta tin ở thần quyền nên có những ngày lễ thánh thần. Tại La Mã hàng năm đến ngày lễ, những người đàn ông bất lực cầm tay nhau nhảy múa quanh tượng đài hình dương vật. Tại Việt Nam có lễ hội “Nõ, Nường” ; trung tâm của lễ hội là những người khiêng mô hình “Nõ” phải tìm mọi cách chọc được vào mô hình “Nường” do các thanh nữ khiêng đang tìm mọi cách chạy trốn ; có đạt được mục đích đó thì trong năm sinh hoạt tình dục của các cặp vợ chồng vùng đó mới được bình thường.
  • Quất roi vào người : Vùng mông, lưng, thận.
  • Thay đổi bạn tình.
  • Thôi miên.
  • Xem nhiều các phim ảnh gợi cảm.

Dùng châm cứu

Dùng các chất thảo dược

  • Trong một số bài thuốc gia truyền. Thổ dân nước Colombia (Nam Mỹ) có tục lệ dùng đốt thân một loại cây mọc ở Colombia làm đồ trang sức đeo quanh thắt lưng nam giới. Cây đó có tác dụng làm dương vật cương lên. Cây muira puama người Brazil dùng làm nước uống có tác dụng kích thích não bộ làm tăng các hormon. Người H’mong (Việt Nam ) thường lót một nắm lá dưới chiếu nằm của các cặp vợ chồng mới cưới, lá đó có tác dụng làm dương vật tăng độ cương.
  • Các bài thuốc y học cổ truyền bằng thảo mộc trong đó có nhân sâm, ba kích, dâm dương hoắc.
  • 1997 Hàn Quốc giới thiệu bài thuốc mà vị chính là nhân sâm đỏ.
  • Dùng bạch tật lê (Tribulus) là một loại cây cỏ mọc ở Bulgaria, một số nước Assean. Miền Trung Việt Nam dùng loại cây cỏ này làm rau ăn.

Dùng các cơ quan của sinh vật như

  • Hoà vào rượu : sừng tê giác, mật gấu, máu rắn, máu ba ba.
  • Trong các món ăn : mào gà trống, lưỡi chim, tinh hoàn dê, tinh hoàn bò rừng trong thời kỳ động tình.
  • Năm 1997, Indonesia công bố bài thuốc dùng tinh hoàn và dương vật cá sấu.
  • Việt Nam có kinh nghiệm dùng tầm chín, rắn độc, cá ngựa, tắc kè.

Sử dụng các phương pháp hỗ trợ cho sự tưới máu vào dương vật

  • Xoa kích thích dương vật.
  • Dùng các loại thuốc bôi vào dương vật.
  • Phụ nữ dùng môi kích thích đầu dương vật.
  • Dùng các ống hút tạo áp lực chân không để hút căng to dương vật. Trung Quốc đặt tên các loại máy hút này là “Phu thê khoái lạc khí” (66).

Dùng thuốc

  • Dùng nội tiết tố

Với nhóm do suy tuyến yên qua kết quả việc định lượng các nội tiết tố trong máu. Dùng thuốc nhóm LH- Gonadotrophin chorionic endo – Biệt dược là Pregryl 1500 IU/ống (Công ty Organon – Hà Lan).

1000-3 000,u/ 1- 3 lần/ 1 tuần

Với nhóm do suy giảm lượng testosteron máu khi lượng testosteron máu hạ thấp dưới mức bình thường (9,7-30,4 nanomol/L). Cần dùng các loại testosteron để bồi phụ.

Thuốc uống :

Undecanoate testosteron – biệt dược là Andriol đóng viên 40 mgr/viên (Organon – Hà Lan).

Loading...

Cách dùng :

Liều tấn công : 4 viên X 1 ngày X 21 ngày

Liều duy trì : 1-2 viên X 1 ngày X 30 ngày

Andriol dưới dạng viên uống là phương pháp điều trị đơn giản phù hợp với tâm lý muốn dấu bệnh của người dùng. Sau khi uống, lượng undecanoate testosteron có đặc tính được truyền trực tiếp qua đường bạch huyết vào máu, không qua gan thận, vì thế ít gây các tác dụng phụ ở gan thận. Ngoài tác dụng làm tăng lượng testosteron máu rõ rệt, kích thích làm tăng ham muốn tình dục và độ cương dương vật, Andriol còn có tác dụng làm tăng trương lực cơ ; cải thiện những hiện tượng rối loạn tim mạch, tăng cường sự hoạt động của vỏ đại não làm cho các phản xạ đáp ứng mau lẹ hơn. (2) (16) (32).

Mesterolone biệt dược của dihydrotestoterone liều dùng 75 mgr/ ngày.

Thuốc tiêm :

Propionate testosteron 25mgr/ống.

1 tuần tiêm 2 ống vào bắp.

Mixed testosteron esters.

250mgr/ống/ 1 tuần X 3- 4 tuần Tên riêng là : Sustanon 250mgr /ống – Cao dán testosterone ngoài da ở vùng bìu.

Bảng 7.8. Một sô thuốc testosteron thường dùng

Đường vào Tên chung Tên trên thị trường
Dạng uống • Undecanoate testosterone • Andriol
  • Fluoxymesterone • Halotestin
  • Methyltestosterone • Metandren
    • Virilon
  • Dihydrotestosterone • Mesterolone
Dạng tiêm • Propionate testosterone • Testosterone
  • Enanthate testosterone • Delatestryl
  • Mixed testosterone esters • Sustanon 250
Dạng cao • Testosterone (dán ở bìu) • Testoderm
dán ngoài da • Testosterone (ngoài da mọi nơi) • Androderm

Khi dùng testosteron cần chú ý :

Không chỉ định dùng trên những người bị suy tim, một số bệnh tim mạch.

Testosteron nếu dùng nhiều sẽ gây ra các bệnh u phì đại lành tính tuyến tiền liệt ; ung thư tuyến tiền liệt. Chống chỉ định trên những bệnh nhân có những bệnh này.

  • Dùng thuốc (94)

Các loại thuốc có tác động lên hệ thần kinh trung ương.

Yohimbine

Là hoạt chất tinh khiết triết xuất từ vỏ cây corynanthe yohimbe rubiaceae mọc tự nhiên ở vùng Tây Phi. Tác dụng chủ yếu của thuốc là đối kháng thụ thể alpha 2 adrenergic làm giãn mạch ngoại vi.

Tên thị trường là Dynaton (hãng Hanse Biopharma – Tây Đức) dạng viên nén.

Ngày uống 2-3 viên X 30 ngày

Trazodone

Tác dụng của thuốc là ngăn cản hoạt động của alpha 2 – adrenergic gây giãn mạch ngoại vi.

Liều dùng 40mg-80mgr/ ngày cho tới khi kết quả trên IIEF có cải thiện. Phentolanin có thể dùng dưới dạng uống hàng ngày. Cũng có thể dùng dạng tiêm phối hợp cùng papaverin tiêm vào vật hang với tổng liều cả hai loại là 40mgr/l mũi tiêm.

Cần chú ý tiêm liều hỗn hợp này vào vật hang hay bị tai biến cương đau dương vật. (xem tiếp phần sau).

Apomorphine

Liều sử dụng 2-4mgr/ngày.

Sildenafil (Viagra)

Cơ chế tác dụng của thuốc từ cơ chế ức chế men phosphodiesterase typ 5 trong chu trình chuyển hoá của nitrogen oxyd làm giãn mạch (xem phần cơ chế sinh hoá).

Liều dùng – dạng viên nén

25mgr – 50mgr- lOOmgr/ 1 ngày X 2 lần 1 tuần X 5 tuần

Điều trị bằng thủ thuật

Tiêm trực tiếp vào vật hang (80)

  • Tiêm vào vật hang 150ml dung dịch Ringer lactate

Mục đích làm tăng thể tích ở vật hang, coi như một phương pháp nhân tạo gây cương cứng dương vật. Phương pháp này ít có tác dụng vì khối lượng dịch sẽ thoát nhanh làm dương vật mềm xỉu nhanh ; bệnh nhân bị đau khi tiêm căng tức vật hang nên không gây hào hứng giao hợp, đó là chưa nói tới các biến chứng cứng vật hang, nhiễm trùng vật hang có thể xảy ra. (Ngày tiết niệu – sinh dục Paris- Pháp 1992).

  • Tiêm Alprostadil (Prostaglandine Eì) vào vật hang

Cơ chế tác dụng của Alprostadil là làm giãn mạch ngoại vi đổng thời làm giãn các cơ trơn do ức chế bài tiết noradrenaline và triệt tiêu sự bài tiết angiotensin. Chỉ định trong những trường hợp rối loạn cương dương do nguyên nhân thần kinh và tâm thần. Có thể chỉ định trong một số bệnh như đái tháo đường, xơ vữa động mạch và một số bệnh thần kinh tuỷ sống.

Kỹ thuật tiêm (xem hình 7.6).

Liều lượng : Tiêm vào vật hang 2,5-5,0 microgam prostaglandin El – Tên thị trường là Caverject (Công ty Up John – Mỹ), 1 lần, một tuần tiêm 2 lần trong 6 tuần lễ. Liều thuốc tăng dẩn cho đến khi có đáp ứng cương dương vật. Sau khi tiêm, dương vật sẽ cương lên. Độ cương giữ bền vững được trong khoảng thời gian từ 60-90 phút.

Trong công trình nghiên cứu tại khoa Tiết niệu bệnh viện Việt Đức Hà Nội trên 50 bệnh nhân (3), liều lượng thuốc có đáp ứng tốt là :

Liều lượng thuốc Số người có đáp ứng tốt
2,5 microgam 5 bệnh nhân
3,3 microgam 10 bệnh nhân
5,0 microgam 14 bệnh nhân
7,5 microgam 12 bệnh nhân
10,0 microgam 7 bệnh nhân
12,5 microgam 2 bệnh nhân

Tai biến :

  • Cương đau dương vật (priapism) : 0%
  • Chảy máu, tụ máu dưới da : 0%
  • Nhiễm khuẩn dương vật : 0%
  • Xơ cứng vật hang : 0%
  • Đau tại chỗ tiêm : 16%
CÁCH TIÊM VẬT HANG
CÁCH TIÊM VẬT HANG

Phương pháp điều trị này có một số hạn chế :

Cảm giác đau tại chỗ tiêm ở dương vật làm giảm sự hưng phấn tự nhiên trong quá trình giao hợp.

Bệnh nhân chưa tự tiêm lấy được, hoặc chưa tổ chức được việc tiêm tại nhà vào những thời điểm thích hợp. Sau khi tiêm thuốc chừng 10 phút, thuốc có tác dụng làm dương vật cương cứng trong thời gian từ 60-70 phút. Việc giao hợp phải tiến hành đúng vào thời điểm này. Đó là những trở ngại lớn cho kết quả của việc điều trị.

Kết quả :

Tác giả Đáp ứng tốt dương vật cương cứng Tai biến đau Các tai biến khác
IShii và cs 86% 25% %
Schramek và cs 79% 40% 2%
stackl và cs 91% 16% 1%
Trần Quán Anh 80% 16% 0%
  • Papaverine

Cơ chế tác dụng của Papaverine là làm giãn mạch ngoại vi. Liều dùng : Tiêm vào vật hang 40mg/l lần Tai biến : Hay bị biến chứng cương đau dương vật (priapism) và làm xơ cứng vật hang nên hiện nay không nên dùng loại thuốc này.

Tác giả Sô lượng bệnh nhân Cương đau kéo dài Các tai biến khác
Zorgiott 97 1% 4,1%
stief và cs 156 1,9% 1,9%
Goldstein và cs 300 2,3% 25%
Girdley và cs 78 23% 16%
Robinette, Moffat 101 6,9% 25%
Levine và CS 111 1,8% 57
Trần Quán Anh 20 15%  
  • Dùng hỗn hợp 3 loại thuốc Papaverin : 70mg

Phentalamin : 2,5mg

Saline 0,9% : l,2ml

Tiêm 1 lần vào vật hang Tai biến : Hay bị cương đau dương vật kéo dài.

  • Đặt vào niệu đạo viên đan Alprostadil (muse – Medicated Urethral System of Erection)

Đặt viên đạn Alprostadil vào niệu đạo dương vật bằng một dụng cụ chế tạo sẵn đóng gói kèm theo (xem hình 7.7).

Alprostadil sẽ ngấm vào tĩnh mạch vật xốp rồi tác động vào vật hang, qua hệ thống tĩnh mạch mũ và tĩnh mạch lưng sâu dương vật, gây cơ chế giãn mạch vùng vật hang (95).

Liều lượng : một viên đan dùng cho một lần là : 250- 500- 1000 Microgam.

Kết quả : Do thuốc dẫn truyền tới vật hang phải qua nhiều hệ tĩnh mạch trung gian cho nên sự đáp ứng cương dương vật để tiến hành được cuộc giao hợp chưa nhiều. Đó là chưa kể cảm giác đau bỏng rát tại niệu đạo trong suốt thời gian ngấm thuốc.

Tác giả Số bệnh nhân Kết quả cương dương vật
Padma Nathan và cs (1997) 1.511 43%
VVilliams và cs (1998) 249 44%
Hellstrom và cs (1996) 65 63%
Ports (1997) 103 Không đáp ứng
Fulgham và cs (1998) 115 Không đáp ứng
Levvis và cs (1998) 51 Không đáp ứng
Trần Quán Anh (1998) 30 6,7%

Điều trị phẫu thuật

  • Các phẫu thuật trên hệ thống động mạch (26)

Nguyên tắc chỉ định chung cho các phẫu thuật trên hệ thống động mạch khi có hiện tượng chít tắc cơ giới các động mạch nguyên uỷ của động mạch dương vật làm cho sự tưới máu vào dương vật bị hạn chế, dương vật không thể cương cứng được. Gồm các phẫu thuật sau :

  • Hồi phục tuần hoàn động mạch chủ – bụng

Trong trường hợp có các mảng xơ vữa gây chít hẹp động mạch chủ bụng – chậu và hạ vị (hội chứng Leriche). Cần làm cho máu lưu thông tốt ở những đoạn chít hẹp đó, người ta có thể tiến hành phẫu thuật theo 2 phương pháp :

ĐẶT VIÊN ĐẠN VÀO NIỆU ĐẠO
ĐẶT VIÊN ĐẠN VÀO NIỆU ĐẠO

Mở động mạch lấy đi mảng xơ vữa làm cho lưu thông lòng ống động mạch, khâu phục hồi động mạch.

Phương pháp bắc cầu – Dùng một đoạn tĩnh mạch tương ứng, khâu nối bắc cầu qua đoạn chít hẹp. Phương pháp này hợp lý và có hiệu quả hơn.

  • Hồi phục tuần hoàn động mạch dương vật

Trong trường hợp động mạch dương vật bị chít hẹp ; lượng máu tưới vào dương vật không đủ để đáp ứng cho việc cương dương vật ; phẫu thuật nhằm mục đích để máu động mạch vào dương vật đầy đủ hơn. Có 3 phương pháp :

  • Phương pháp của Michal

Năm 1973, Michal dùng phương pháp nối động mạch thượng vị dưới (inferior epigastric artery) qua cân Albuginea vào trực tiếp vật hang (phương pháp Michal I). Phương pháp này về sau không sử dụng vì lượng máu tưới vào vật hang quá nhiều gây cương đau dương vật kéo dài. Phương pháp Michal II có cải tiến bằng cách nối động mạch thượng vị dưới vào động mạch lưng dương vật ở dưới đoạn chít hẹp.

  • Phương pháp của Virag

Năm 1981, Virag dùng phương pháp nối gián tiếp qua một đoạn ghép tĩnh mạch từ động mạch thượng vị dưới tới tĩnh mạch mu sâu. Phương pháp này đạt kết quả từ 40-60%.

  • Phương pháp của Đài Loan

Từ năm 1986 Johnny Shiner- Nan Lin ở Đài Loan áp dụng phương pháp phối hợp cả phương pháp Michal II và Virag. Từ 1986 – 1987 đã mổ 9 bệnh nhân và 7 bệnh nhân có kết quả tốt (77,8%).

  • Các phẫu thuật trên hệ thống tĩnh mạch

Trong trường hợp có nhiều chỗ rò rỉ ở vật hang hoặc hình thành nhiều tĩnh mạch tân tạo từ vật hang làm cho máu tưới vào vật hang chứa đủ áp lực gây cương cứng dương vật đã bị thoát nhanh về tĩnh mạch trung ương làm cho dương vật không bao giờ cương cứng được. Tiến hành các phẫu thuật sau :

Làm tắc tĩnh mạch mu sâu (Embolisation)

Buộc – cắt tĩnh mạch mu sâu và các nhánh bên.

Buộc – cắt tĩnh mạch ngoại vi và chỗ có các đường rò rỉ.

Buộc phần gốc của vật hang – thắt tĩnh mạch lưng dương vật.

Động mạch hóa tĩnh mạch mu sâu bằng cách nối động mạch thượng vị dưới với tĩnh mạch mu sâu (phương pháp Virag).

  • Phẫu thuật lắp ghép bộ phận giả (Prosthetic Surgery) (69)

Là phẫu thuật đặt vào hai bên vật hang một ống chất dẻo cứng bằng silicone, có chiều dài phù hợp với từng người, làm cho dương vật luôn luôn cứng có thể giao hợp bất cứ lúc nào.

Lịch sử xa xưa, tại các quần đảo vùng Thái Bình Dương, các thổ dân đã biết cách độn vào dưới da dương vật các vật cứng như đá sỏi, hồng ngọc, kim cương để làm cho dương vật to và cứng lên. Năm 1973, tại Mỹ lần đầu tiên người ta đặt vào vật hang 2 thỏi silicon đặc để làm cho dương vật luôn luôn thẳng đứng. Từ 1975 đến 1990 phẫu thuật đặt vật giả vào vật hang phổ biến trên thế giới.

Phẫu thuật đặt vật giả vào vật hang phá huỷ hoàn toàn hệ thống mạch máu trong vật hang, làm mất hoàn toàn cơ chế cương dương vật tự nhiên tạo ra một sự cương cứng vĩnh viễn giả tạo. Cho nên việc chỉ định các phẫu thuật này thường ở giai đoạn cuối cùng khi không còn một biện pháp điều trị nào có kết quả. Thường được chỉ định ở những trường hợp sau.

Khi tất cả các phương pháp điều trị nội khoa, bằng thủ thuật, phẫu thuật đều không có kết quả.

Bị thương tổn xơ cứng vật hang nặng sau cương đau dương vật (priapism) kéo dài hoặc vỡ vật hang.

Trong các trường hợp xơ vữa động mạch lan toả.

Trong bệnh La Peyronic làm xơ cứng và biến dạng vật hang.

  • Có hai loại vật giả

Loại vật giả đơn giản là hai ống Silicon đặc đặt vào hai bên vật hang. Dương vật được dựng cứng thẳng đứng vĩnh viễn. Đặt loại vật giả này thường gây khó chịu vướng víu trong sinh hoạt thường ngày nên hiện nay ít người sử dụng. Tuy nhiên giá tiền cũng rất đắt (4000 – 6000 USD một bộ).

Loại vật giả có bơm hơi. Gồm 2 ống Silicon rỗng chứa dịch đặt ở vật hang nối liền với một túi bơm hơi đặt ở trong bìu. Khi định giao hợp, người bệnh dùng tay bóp nắn túi bơm hơi. Hơi được đưa vào 2 ống Silicon ở vật hang làm ống căng phồng và dựng cho dương vật thẳng đứng. Sau khi giao hợp xong người bệnh dùng tay xoa nắn vùng bìu để bóp van xả túi hơi. ốngSilicon xẹp lại và làm cho dưoíng vật mềm mại bình thường. Loại vật giả này hiện nay được ưa thích hơn nhưng giá rất đắt (10.000- 15.000USD).

  • Biến chứng khi đặt vật giả vào vật hang

Tạo ra sự cương cứng giả tạo của dương vật là một phương pháp điều trị gượng ép bởi vì bệnh nhân sẽ mất nhiều những khoái cảm tự nhiên. Thêm nữa đặt vĩnh viễn mọt vật giả vào trong vật hang có thể gây ra các biến chứng :

  • Gây xơ hoá toàn bộ vật hang.

Làm thương tổn niệu đạo hoặc chọc thủng cung đùi.

Thủng vật hang do đầu vật giả chọc thủng cân Albuginea lòi ra dưới da dương vật hoặc tầng sinh môn.

Nhiễm khuẩn dương vật do quá trình phẫu thuật hoặc sự đào thải các vật lạ trong cơ thể.

Tụ máu vùng bìu do quá trình cọ xát của vật giả gây chảy máu.

  • Phẫu thuật tạo hình các bệnh làm biến dạng hỉnh thể giải phẫu dương vật

Một số bệnh dị tật bẩm sinh hoặc mắc phải làm thay đổi hình thể giải phẫu dương vật và không thể đưa được vào âm đạo để tiến hành giao hợp như bệnh : La Peyronic, dương vật chẻ đôi, dương vật nhỏ, dương vật ngắn…

Những loại bệnh đó cần sử dụng các phẫu thuật tạo hình để sửa chữa trả lại hình thể bình thường của dương vật khi cương cứng.

  • Bệnh La Peyronie

Triệu chứng có 4 triệu chứng chính :

Sờ thấy có các mảng xơ cứng ở vật hang.

Dương vật bị cong khi cương.

Đau khi giao hợp.

Có rối loạn cương dương.

Chỉ định phẫu thuật khi:

Bằng các phương pháp điều trị nội khoa không có kết quả.

Dương vật bị cong đến mức không thể đưa được vào âm đạo.

Bị rối loạn cương dương.

Yêu cầu tha thiết của bệnh nhân cần được xử trí nhanh.

Nguyên tắc của phẫu thuật là :

Cắt bỏ hết các mảng xơ cứng ở vật hang gây co kéo dương vật.

Tạo hình lại vật hang ở tư thế thẳng.

Làm dài dương vật

Trong những trường hợp dương vật quá ngắn không làm thoả mãn được người phụ nữ trong giao hợp, cần sử dụng phẫu thuật làm dài dương vật.

Nguyên tắc phẫu thuật – Bọc lộ lưng vật hang tới sát chỗ bám tận vào xương mu bởi một giải cân. Giải phóng vật hang khỏi chỗ bám tận đó để kéo dài vật hang xuống. Tạo hình lại chỗ bám tận bằng vạt da ghép hoặc cân giữ trực tràng theo kỹ thuật V-Y, z hoặc z đôi. Theo kinh nghiệm của Hui Meng Tân Malaysia năm 1994, bằng kỹ thuật đã mô tả trên 260 nam đã kéo dài được dương vật 4cm (81).

  • Làm to dương vật

Nguyên tắc phẫu thuật: Dùng các giải mỡ có cuống đặt lên đính vào sát lớp cân nông dương vật rồi dùng các vạt da di chuyển che kín bọc quanh dương vật. Dương vật sẽ được độn to lên (81).

KẾT LUẬN

Rối loạn cương dương là một bệnh mang tính xã hội cần được sự quan tâm điều trị một cách bình đẳng như các loại bệnh khác. Việc chẩn đoán bệnh không khó khăn nhưng việc chẩn đoán nguyên nhân gây bệnh là một khâu rất quan trọng vì từ đó mới lựa chọn được phương pháp điều trị thích hợp cho từng người.

Các cơ sở điều trị chuyên ngành chưa có nhiều. Bệnh nhân không biết khám bệnh và điều trị tại đâu. Các thầy thuốc đa khoa thường bỏ quên loại bệnh này. Các phẫu thuật viên vẫn coi đây chỉ là những công việc làm thêm. Đây cũng là một thực tế của ngành ta còn tồn tại và cần được tiếp tục bàn luận.

Loading...

BÌNH LUẬN

Nhập nội dung bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.