Trung y điều trị lở loét lưỡi như thế nào?
Tác giả: Dư Cao Thành
(Trạm Y tế Hồng Tứ, trấn Trường Xích, huyện Nam Giang, tỉnh Tứ Xuyên; Thành phố Ba Trung, tỉnh Tứ Xuyên 636632)

Lở loét lưỡi là một bệnh loét miệng thường gặp, trong dân gian còn gọi là “nhiệt miệng” hoặc “chốc mép”. Bệnh có diễn tiến kéo dài, có đặc tính tái phát nhiều lần, biểu hiện chủ yếu là tổn thương loét khu trú ở niêm mạc miệng, có khả năng tự khỏi và có thể xuất hiện ở bất kỳ vị trí nào trong niêm mạc miệng.
Trong đó, các vị trí phổ biến nhất là môi, má, vòm miệng mềm, lợi và các vị trí niêm mạc khác. Theo sự phát triển của bệnh, xuất hiện một hoặc vài vết loét hình tròn hoặc bầu dục với kích thước lớn nhỏ khác nhau, bề mặt có một lớp màng giả màu trắng xám hoặc vàng có thể nhìn thấy rõ, trung tâm lõm xuống, ranh giới khá rõ ràng, niêm mạc xung quanh đỏ và hơi sưng, cảm giác đau rát tại chỗ loét rất rõ rệt. Lở loét lưỡi còn được gọi là viêm miệng áp-tơ tái phát và loét miệng tái phát. Dưới đây, bài viết này phân tích các phương pháp điều trị lở loét lưỡi theo Đông y.
Trong phạm vi Trung y, lở loét lưỡi thuộc phạm vi của “khẩu mi” (miệng lở loét nát) và “khẩu sang” (lở miệng). Mặc dù lở loét xuất hiện ở miệng, nhưng có mối quan hệ không thể tách rời với các tạng phủ.
Trung y cho rằng: Tỳ khai khiếu ra miệng, Tâm khai khiếu ra lưỡi, kinh mạch Thận nối với họng và hệ ở gốc lưỡi, hai má thuộc Vị, lợi răng thuộc Đại tràng, mạch Nhâm và Đốc đều đi lên liên lạc với môi và lưỡi ở khoang miệng. Do đó, sự xuất hiện của lở loét miệng có mối quan hệ mật thiết với ngũ tạng.
Sách «Tố vấn · Chí chân yếu đại luận» đã nêu rõ: “Hứa đau ngứa lở loét, đều thuộc về Tâm”. Hỏa của lở loét miệng không chỉ do một mình tạng Tâm gây ra. Nếu thường ngày dễ nổi giận, có thói quen hút thuốc uống rượu, ăn uống quá nhiều đồ béo ngậy, đều sẽ dẫn đến Tâm Tỳ tích nhiệt, Phế Vị uất nhiệt, Can Đảm uẩn nhiệt, từ đó hình thành lở loét lưỡi.
-
Chứng hư: Thận âm thiếu hụt rõ rệt, hư hỏa bốc lên trên gây lở loét lưỡi; người cao tuổi thể lực suy yếu, lao lực nội thương, Tỳ Vị tổn thương có thể dẫn đến trung tiêu mất điều hòa, khí cơ trên dưới không thông suốt, Tâm hỏa độc thịnh (hỏa vượng một mình), từ đó dẫn đến lở loét lưỡi.
-
Sách «Tỳ vị luận» có đề cập: “Vả lại Tỳ Vị khí suy, nguyên khí không đủ, mà Tâm hỏa độc thịnh; Tâm hỏa là âm hỏa, khởi từ hạ tiêu, hệ ở tại Tâm, Tâm không chủ lệnh thì tướng hỏa thay thế”. Bệnh dạ dày dẫn đến khí đoản, tinh thần không tốt sinh ra đại nhiệt, đôi khi vị hỏa bốc lên trên ảnh hưởng đến vùng mặt, gây ra lở loét lưỡi.

Trung y chia lở loét lưỡi thành 7 thể để điều trị, bài viết này phân tích chi tiết như sau:
1. Thể Ngoại cảm nhiệt độc
-
Biểu hiện: Bệnh thường xuất hiện trong vòng 1-2 ngày sau khi ngoại cảm, có các triệu chứng ngoại cảm rất rõ rệt. Giai đoạn đầu phát bệnh, niêm mạc miệng cục bộ xung huyết, sưng đỏ rõ rệt, kèm theo cảm giác đau nhẹ. Đầu lưỡi và trong môi xuất hiện các nốt đỏ nhỏ hoặc mụn nước nhỏ, trong vòng 12 giờ mụn nước bị vỡ loét thành vết loét nông, ranh giới rất rõ ràng.
-
Nguyên tắc điều trị: Cần tuân theo nguyên tắc thanh nhiệt giải độc, trừ thấp thanh hỏa.
-
Bài thuốc: Kim ngân hoa, Địa đigung, Sinh địa, Thạch cao mỗi vị 20g; Cúc hoa, Tang diệp, Hoàng cầm mỗi vị 15g; Hoàng bá, Cát cánh, Phục linh, Thần khúc, Bạch cập, Thiên trúc hoàng mỗi vị 12g; Cam thảo 6g. Sắc uống với nước, mỗi ngày dùng 1 thang.
2. Thể Tỳ Vị thấp nhiệt
-
Biểu hiện: Lở loét lưỡi thể Tỳ Vị thấp nhiệt có nhiều vết loét nát, bề mặt vết loét sưng đỏ, người bệnh có cảm giác đau rát dữ dội. Trường hợp bệnh nặng có hôi miệng, sưng lợi đau nhức, đồng thời kèm theo các biểu hiện như khát nước, tiểu vàng, táo bón, chất lưỡi đỏ rêu vàng.
-
Nguyên tắc điều trị: Cần tuân theo nguyên tắc thanh nhiệt tả hỏa, kiện vị trừ thấp.
-
Bài thuốc: Liên kiều 30g; Hoàng cầm, Trúc diệp, Phục linh mỗi vị 15g; Sơn tử chi (dành dành), Hoàng bá, Hoàng liên, Khổ sâm, Long đởm thảo, Thương thuật, Thần khúc, Trạch tả mỗi vị 12g; Đại hoàng, Cam thảo mỗi vị 6g. Sắc uống với nước, mỗi ngày dùng 1 thang.
3. Thể Tỳ Vị dương hư

-
Biểu hiện: Triệu chứng là miệng lưỡi lở loét, bề mặt vết loét có màu trắng, xung quanh không đỏ, số lượng ít, điều trị lâu ngày không khỏi. Kèm theo tứ chi không ấm, miệng khô họng khát, mỏi lưng đau xương sống, đại tiện lỏng, chất lưỡi nhợt rêu trắng nhờn, mạch trầm.
-
Nguyên tắc điều trị: Cần tuân theo nguyên tắc ôn bổ Tỳ Thận.
-
Bài thuốc: Thục địa, Sơn dược mỗi vị 30g; Đan bì, Phục linh, Trạch tả, Thương thuật, Bạch cập mỗi vị 15g; Đương quy, Nguyên sâm, Sơn thù du mỗi vị 12g; Chế phụ tử, Cam thảo mỗi vị 6g. Sắc uống với nước, mỗi ngày dùng 1 thang.
4. Thể Tỳ Vị khí hư
-
Biểu hiện: Triệu chứng chính là miệng lưỡi lở loét và tái phát nhiều lần, bề mặt vết loét màu nhợt lõm xuống. Người bệnh mệt mỏi, kém ăn, tứ chi vô lực, chất lưỡi nhợt rêu trắng.
-
Nguyên tắc điều trị: Nên tuân theo nguyên tắc ích khí kiện tỳ, vận hóa thủy thấp.
-
Bài thuốc: Hoàng kỳ, Đảng sâm mỗi vị 30g; Khiếm thực, Ý dĩ mỗi vị 20g; Đương quy, Bạch truật, Bạch cập mỗi vị 15g; Thương thuật, Thiên trúc hoàng, Trạch tả mỗi vị 12g; Trần bì, Phục linh mỗi vị 10g; Sài hồ, Cam thảo mỗi vị 6g. Sắc uống với nước, mỗi ngày dùng 1 thang.
5. Thể Tâm Thận bất giao
-
Biểu hiện: Loét lưỡi loại này có màu đỏ tươi, số lượng nhiều, kích thước lớn nhỏ khác nhau, ban ngày nhẹ đêm nặng. Người bệnh có các biểu hiện hồi hộp (tim đập nhanh), mất ngủ, hay quên ù tai, mỏi lưng đau xương sống, chất lưỡi đỏ rêu mỏng.
-
Nguyên tắc điều trị: Nên tuân theo nguyên tắc tư âm thanh hỏa, giao hội Tâm Thận.
-
Bài thuốc: Tang ký sinh 30g; Liên kiều 20g; Địa cốt bì 15g; Liên tử tâm, Chi tử, Đan bì, Trạch tả, Bạch cập mỗi vị 12g; Hoàng liên, Trạch tả [lưu ý theo nguyên tác], Sơn thù du mỗi vị 10g; Cam thảo 6g; Sơn dược 5g; Ngô thù du 3g. Sắc uống với nước, mỗi ngày dùng 1 thang.
6. Thể Âm huyết khuy hư (Âm huyết hư tổn)
-
Biểu hiện: Lở loét lưỡi loại này thường gặp ở nữ giới, xuất hiện sau kỳ kinh nguyệt, kèm theo trước kỳ kinh lượng kinh ra nhiều. Ngũ tâm phiền nhiệt (lòng bàn tay bàn chân nóng, ngực rứt rứt nóng), miệng khô họng khát, chất lưỡi nhợt rêu mỏng trắng.
-
Nguyên tắc điều trị: Nên tuân theo nguyên tắc bổ huyết tư âm, thanh hỏa trừ nhiệt.
-
Bài thuốc: Sinh địa 30g; Đương quy, Bạch thược mỗi vị 20g; Nguyên sâm, Đạm trúc diệp, Phục linh, Đan bì, Sơn tử chi mỗi vị 15g; Sài hồ, Mạch môn, Bạch cập mỗi vị 12g; Ngũ vị tử, Hoàng liên mỗi vị 10g; Cam thảo 6g. Sắc uống với nước, mỗi ngày dùng 1 thang.
Tóm lại, đối với chứng lở loét lưỡi, phương pháp điều trị của Trung y tương đối đa dạng. Người bệnh cần kết hợp với tình hình thực tế của bản thân để lựa chọn phương pháp điều trị thích hợp, thông qua các phương pháp Đông y để cải thiện tình trạng bệnh và sớm ngày hồi phục sức khỏe.
