Làm gì khi bé sốt?
Làm gì khi bé sốt?

Nhiệt uất Thiếu dương

  • Triệu chứng chính: Sốt và sợ lạnh qua lại (hàn nhiệt vãng lai), khi cao khi thấp, sốt kéo dài không lui, phiền tấy bồn chồn khó ngủ. Trẻ lớn hơn có thể than phiền khô miệng, đắng miệng, hai mạn sườn khó chịu; lưỡi đỏ rêu vàng, hoặc trắng vàng lẫn lộn; đại tiện điều hòa, mạch huyền tế hoặc huyền sác.

  • Phân tích chứng trạng: Tà nhiệt uất ở Thiếu dương, ứ trệ ở khoảng giữa biểu và lý, âm dương tranh chấp nên sốt sợ lạnh qua lại. Do tà không giải ra ngoài được, mà cũng chưa truyền vào trong, nên sốt lưu cữu không lui, đại tiện vẫn điều hòa. Đảm là Túc Thiếu dương kinh, nên trẻ lớn có thể kêu khô miệng, đắng miệng, đau mạn sườn; trẻ nhỏ hơn thì thường thấy phiền bồn khó ngủ. Do chứng này chưa phạm vào Phế và Vệ, nên trên lâm sàng ho không xuất hiện nhiều.

  • Phép trị: Hòa giải phiến nhiệt (Hòa giải lui sốt).

  • Phương thuốc: Tiểu Sài Hồ Thang làm chủ bài: Sài hồ, Khương bán hạ, Đảng sâm, Thanh cam thảo, Hoàng cầm, Sinh khương, Đại táo.

Gia giảm theo chứng:

  • Nếu bệnh trung khí không hư thì bỏ Đảng sâm; sốt tương đối cao thì thêm Liên kiều, Lô căn; đêm sốt nặng thì thêm Thanh hao, Bạch thược; nếu kèm tích trệ thì gia Chỉ thực, Sơn tra, Trần bì.

  • Nếu kèm ớn lạnh, đau khớp xương, nên xét xem có phải Thiếu dương kiêm Thái dương biểu chứng hay không, dùng phương pháp hòa giải kiêm giải ngoại tà, dùng bài Sài Hồ Quế Chi Thang (Sài hồ, Quế chi, Sao Bạch thược, Sinh khương, Hồng táo, Thanh cam thảo);

  • Nếu sốt cao, bụng đầy trướng, đại tiện táo kết, nên xét xem có phải Thiếu dương kiêm Dương minh lý kết hay không, phương pháp điều trị là hòa giải thanh lý, dùng bài Đại Sài Hồ Thang làm chủ (Đại hoàng, Chỉ thực, Sài hồ, Hoàng cầm, Khương bán hạ, Bạch phục linh, Sinh khương, Đại táo).

  • Nếu sốt nóng lạnh kéo dài ngày, phiền bồn không yên, chi chi tứ chi thanh lạnh, rêu lưỡi vàng nhợt,便 trệ (đại tiện khó/rối loạn), đây là Thiếu dương khí uất, nhiệt uất ở trong, pháp điều trị nên thông đạt khuất uất, giải uất thanh nhiệt, phương dùng Tứ Nghịch Tán làm chủ (Sài hồ, Chỉ xác, Thược dược, Cam thảo);

  • Nếu hàn nhiệt vãng lai, hoặc sốt về chiều, nhưng sốt không quá cao, rêu lưỡi nhớt, bụng đầy trướng, đây là Đảm hỏa thấp trở, phạm tới Vị khí, nên dùng phương pháp thanh Đảm hóa濁 (thanh Đảm hóa đờm thấp) hòa Vị, phương dùng Hạo Câm Thanh Đảm Thang (Thanh hao, Hoàng cầm, Trần bì, Khương bán hạ, Phục linh, Thanh cam thảo, Trúc nhự, Chỉ thực);

  • Nếu sốt lâu không lui, sốt phát ra thành từng cơn, nôn mửa ăn ít, ngực bụng khó chịu, rêu lưỡi trắng nhớt như bột tích tụ lại thành lớp mỏng ẩm ướt, thấp nhiệt tiềm ẩn sâu, thì nên dùng bài Đạt Nguyên Ẩm làm chủ (Hậu phác, Thường sơn, Thảo quả, Binh lang).

Chú ý: Tình trạng bệnh lâm sàng của chứng Thiếu dương có nhiều biến hóa, nhưng hòa giải vẫn là phép chữa chính, nắm được phép này thì hiệu quả sẽ rõ rệt.

 Dương minh thực nhiệt

① Chứng Dương minh khí phân

  • Triệu chứng chính: Sốt cao phiền táo, miệng khát vã mồ hôi, tiện khô uất đỏ, lưỡi đỏ rêu vàng hoặc mỏng, mạch hồng đại. Một số tuy không có triệu chứng vã mồ hôi khát nước rõ rệt, nhưng nhiệt thế tương đối cao, môi đỏ phiền táo, cũng là tà nhập khí phân, lâm sàng cần phân biệt kỹ.

  • Phân tích chứng trạng: Vị là kinh đa khí đa huyết, tà nhiệt truyền vào Vị kinh, gây ra chứng tráng nhiệt không ngừng, nhiệt ép tân dịch ra ngoài, thì thấy vã mồ hôi; môi đỏ, phiền táo, đều là tượng khí phân nhiệt thịnh làm tổn thương tân dịch.

  • Phép trị: Thanh khí giải nhiệt.

Trích sách “Đổng Thị nhi khoa” NXB Trung Y trung dược xb xã (3/12/2013)

BÌNH LUẬN

Nhập nội dung bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.