Chẩn đoán tắc ống dẫn tinh bao gồm, chẩn đoán nguyên nhân và vị trí tắc. Trong thắt ống dẫn tinh như ngoài hỏi tiền sử phẫu thuật, trên lâm sàng sờ thấy vị trí thắt ở 2 bên bìu. Xét nghiệm tinh dịch không có tinh trùng là đủ chẩn đoán xác định thắt ống dẫn tinh có hiệu quả. Còn tắc ống dẫn tinh do bẩm sinh hoặc mắc phải, thầy thuốc phải dựa vào:

Triệu chứng lâm sàng,

Xét nghiệm tinh dịch,

Mô học tinh hoàn,

Các thăm dò hình ảnh (siêu âm, chụp ống dẫn tinh).

Triệu chứng lâm sàng

  • Tắc ống dẫn tinh do di chứng của những bệnh lây qua đường tình dục

Bệnh nhân có tiền sử viêm nhiễm đường sinh dục, bệnh hay gặp là sau lậu không được điều trị đầy đủ. Viêm mào tinh lại thường là hậu quả của viêm lao.

Sờ mào tinh có cảm giác căng, tức; ống dẫn tinh vẫn sờ thấy.

  • Bệnh bẩm sinh

Không ống dẫn tinh bẩm sinh thường kết hợp với các bất thường về mào tinh, túi tinh. Lâm sàng hoàn toàn không sờ thấy ống dẫn tinh, hoặc một đoạn, nhiều khi sờ thấy một đoạn ống dẫn tinh từ mào tinh đi ra như mẩu “sừng bò”.

Xét nghiệm tinh dịch đồ

Khi tinh dịch đồ không có tinh trùng, hoặc tinh trùng rất ít, chỉ vài triệu/ml, mà khối lượng tinh dịch <lml. Kích thước tinh hoàn bình thường , thì chúng ta có thể nghĩ tới tắc ống dẫn tinh hoàn toàn (khi không tinh trùng trong tinh dịch, thử nghiệm fructose trong tinh dịch không có) hoặc một phần (có tinh trùng trong tinh dịch).

Hình ảnh mô học tinh hoàn

Mục tiêu của sinh thiết nhằm biết được khả năng sinh tinh của tinh hoàn để có phương pháp điều trị phù hợp.

Có thể sinh thiết bằng phương pháp mở hoặc chọc hút sinh thiết. Mẩu sinh thiết được cho ngay vào lọ đựng dung dịch Bouin. Đọc kết quả chú ý các chỉ tiêu:

Mô kẽ

  • Hình thái ống sinh tinh ống.
  • Mật độ tế bào dòng tinh.
  • Tinh trùng ở các giai đoạn và tỷ lệ giữa chúng.

Tuỳ từng trường hợp cụ thể mà có kết quả khác nhau. Tinh hoàn, nhiều khi quá trình sinh tinh bình thường hoặc tăng xơ hoá tổ chức kẽ, giảm số lượng tế bào Leydig, Sertoli và tiền tinh trùng, thành ống sinh tinh dày lên …

Chụp ống dẫn tinh

Mục tiêu của chụp ống dẫn tinh để đánh giá mức độ lưu thông, và xác định vị trí tắc của ống dẫn tinh.

Kỹ thuật

  • Chụp ống dẫn tinh qua đường bìu

Rạch da bộc lộ, bóc tách ống dẫn tinh khỏi bó mạch thần kinh giống như trong triệt sản- luồn một clamp xuống dưới làm giá đỡ. Dưới kính vi phẫu, sử dụng độ phóng đại f =15, dùng dao vi phẫu rạch ngang ống dẫn tinh đến khi nhận ra lòng ống. Lúc này có thể dịch có chảy ra từ lòng ống, dùng lam kính lấy dịch làm xét nghiệm. Dùng catheter mạch máu số 24, luồn vào lòng ống dẫn tinh. Bơm dung dịch Ringer hoặc natriclorid 0,9% qua catheter trước khi bơm thuốc cản quang. Nếu khi bơm dịch qua catheter dễ dàng thì đoạn ống dẫn tinh phía dưới có lẽ không tắc.

Trước khi bơm thuốc cản quang để chụp, đặt một sond Foley bàng quang, bơm bóng, kéo về niệu đạo vừa đủ để cho thuốc không tràn qua ống phóng tinh vào bàng quang làm cho phẫu thuật viên nhận xét lưu thông đoạn dưới thiếu chính xác.

Tiến hành bơm 2-5ml chất cản quang qua catheter để chụp ống dãn tinh. Sau khi bơm xong thì chụp xquang ngay.

Khi mở ống dẫn tinh, nếu có dịch đục chảy ra lấy vào lam kính có sẵn giọt nước muối, soi kính hiển vi để xác định tinh trùng. Nếu trong dịch có tinh trùng thì vị trí tắc không phải phía trên chỗ mở ống dẫn tinh. Nếu không có dịch chảy ra, tiến hành bơm khoảng 0,5ml dung dịch Ringer hoặc natriclorid 0,9% qua catheter lên phía tinh hoàn, nhiều khi sau thủ thuật này dịch đục sẽ chảy ra qua chỗ mở ống dẫn tinh.

Sau khi chụp xong, tiến hành khâu vị trí mở của ống dãn tinh, bằng chỉ 8/0, một lớp.

  • Chụp ống dẫn tinh qua nội soi

Phương pháp này chỉ tiến hành khi nghi ngờ tắc ống dẫn tinh ở vị trí cao hơn ống bẹn mà phương pháp chụp ống dẫn tinh trên thất bại.

Thủ thuật được tiến hành bằng cách nội soi tiết niệu, đặt 2 catheter niệu quản số 03 đầu nhọn vào ống dãn tinh hai bên ngay sát ụ núi. Bơm thuốc cản quang loại 50%, tan trong nước đồng thời cả 2 bên để chụp ống dẫn tinh.

* Kết quả chụp ống dẫn tinh: có thể lưu thông hoặc tắc ống dẫn tinh.

Tai biến và biến chứng của chụp ống dẫn tinh

  • Hẹp ống dẫn tinh: Là hậu quả của vị trí mở ống dẫn tinh khâu không cẩn thận, hoặc vị trí chọc qua ống dẫn tinh để chụp.
  • Thương tổn bó mạch tinh. Tuỳ mức độ của tổn thương, có thể gây hậu quả thiểu dưỡng tinh hoàn, teo tinh hoàn, ống dẫn tinh sau này.
  • Tụ máu : Tụ máu xảy ra ở vị trí bộc lộ để chụp ống dẫn tinh, sau thủ thuật khối máu tụ có thể to dần. Nêu điều trị nội khoa không kết quả cần mở ra để lấy máu cục và cầm máu. Đề phòng tai biến này bằng cách cầm máu bằng dao điện thật cẩn thận.
  • u hạt tinh: Do hậu quả của khâu vị trí mở ống dẫn tinh không đủ kín, tinh dịch rò ra ngoài tạo thành u hạt tinh gây chít hẹp ống dẫn tinh ở vị trí u hạt. Sửa chữa tốt nhất là sử dụng kỹ thuật vi phẫu để cắt bỏ khối u hạt tinh rồi tạo hình lại ống dẫn tinh.

Kỹ thuật chụp ống dẫn tinh của Trần Quán Anh và Lê Văn Vệ

Để giảm thiểu nguy cơ hẹp ở vị trí mở ống dẫn tinh bơm thuốc chụp X quang. Tác giả đã sử dụng phương pháp chụp không rạch ngang ống dẫn tinh, kỹ thuật của như sau:

Sau khi vô cảm bằng gây tê tại chỗ 2-4ml dung dịch lidocain2%.

Bằng thủ thuật 3 ngón tay, bộc lộ ống dẫn tinh khỏi bó mạch thần kinh một đoạn khoảng l,5-2cm, cách mào tinh chùng 2-3 cm. Dùng kìm Alis nâng ống dẫn tinh lên, lúc này giao cho người trợ thủ nâng và giữ nhẹ nhàng kìm Alis. Thủ thuật viên dùng catheter số 24 hoặc 25 chọc qua mặt trước thành ống dẫn tinh hướng vào lòng ống. Khi catheter đã nằm trong lòng ống thì tiến hành bơm 3-5ml thuốc cản quang (thường dùng là telebrix 350).

Ưu điểm của kỹ thuật mà tác giả sử dụng là tránh được rạch mở ống dẫn tinh, hạn chế tối thiểu tai biến hẹp ống dẫn tinh sau chụp.

Vấn đề quan trọng nhất của thủ thuật là làm sao xác định được cathether đã nằm trong lòng ống dẫn tinh? mà không sử dụng chỉ thị màu xanh methylen hay đỏ congo. Để đảm bảo cathether đã nằm trong lòng ống dãn tinh, khi chọc cathether qua mặt trước thành ống, thủ thuật viên sẽ có cảm giác “sật” khi đó đẩy dọc theo lòng ống chừng 1cm thì dừng lại, rút nòng cathether rồi đẩy tiếp khoảng 2-3cm nữa, nếu đẩy nhẹ nhàng thì thường chắc chắc catheter đã nằm trong lòng ống dẫn tinh. Nếu vừa đẩy vừa hút nhẹ nhàng mà có dịch tinh ra theo thì cathether chắc chắn đã nằm trong lòng ống dãn tinh-lấy dịch soi tươi để đánh giá chất lượng tinh dịch. Để kiểm tra, dùng bơm tiêm 1ml bơm dung dịch Ringer hoặc nước muối sinh lý qua cathether, khi bơm có cảm giác nhẹ nhàng, vị trí ống dẫn tinh ở đầu catheter sờ không thấy biến dạng sau khi bơm dịch thì chắc chắn cathether đã nằm trong lòng ống dẫn tinh. Lúc này tiến hành bơm thuốc cản quang chụp ống dẫn tinh như bình thường . Sau khi chụp kiểm tra 2 đầu ống dẫn tinh đầu túi tinh, rút và quay đầu cathether để chụp mào tinh.

Nhờ sử dụng kỹ thuật này mà chúng tôi không phải rạch mở và khâu ống dẫn tinh khi chụp, nên thời gian của thủ thuật nhanh hơn, hạn chế được hẹp ở vị trí khâu ống dẫn tinh. Bằng kỹ thuật này, tác giả đã chụp ống dẫn tinh cho nhiều trường hợp và cha gặp tai biến hẹp ống dẫn tinh sau chụp. Kết quả chụp ống dẫn tinh cũng rất khả quan.

BÌNH LUẬN

Nhập nội dung bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.