Viêm mấu xương ở khớp háng

Tổn thương mấu xương liên quan đến các gai chậu trước trên và trước dưới, mào chậu, và ụ ngồi hay xảy ra nhất ở những người vị thành niên ưa hoạt động. Các cơ háng và cơ bụng chính hoặc đi qua hoặc bắt nguồn tại những vị trí phát triển xương này. Tình trạng này thường gặp nhất ở những người chạy xa, khiêu vũ và có liên quan đến sự thiếu cân bằng cơ-gân và tăng trưởng nhanh (xem Chương 52). Những người vị thành niên có biểu hiện đau mơ hồ, âm ỉ liên quan đến các hoạt động định vị gần háng. Các phim Xquang có thể có tác dụng cho đánh giá chấn thương cấp tính và loại trừ bệnh lý về háng khác. Điều trị bao gồm nghỉ ngơi tránh hoạt động khó chịu, tiếp theo là một chương trình làm căng giãn và tăng cường dần dần sức mạnh các cơ háng và bụng (Bảng 20.1).

Hội chứng Sindig-Larsen-Johansson

Hội chứng Sindig-Larsen-Johansson là một tổn thương mấu xương tới cực dưới của xương bánh chè. Tình trạng này được cho là hậu quả của nhiều đợt bị chấn thương nhỏ do lực kéo gây ra ở tuổi chưa trưởng thành, cực xương bánh chè dưới bị vôi hóa và cốt hóa tại chỗ nối này. Tình trạng này thường gặp ở những trẻ trai năng động trước tuổi 13 (10- 12 tuổi), trẻ kêu đau ở cực dưới xương bánh chè hoặc tại chỗ nối xương bánh chè – cơ tứ đầu đoạn gần, đau càng nặng hơn khi chạy hoặc trèo cầu thang. Điểm nhạy cảm đau đượcghi nhận ở tại những chỗ nối xương bánh chè-cơ tứ đầu hoặc xương bánh chè- gân xương bánh chè. Phần còn lại của khám đầu gối thường là bình thường. Các phim Xquang có thể bình thường hoặc cho thấy các mức và hình dạng vôi hóa hoặc cốt hóa khác nhau tại chỗ nối xương bánh chè.

bệnh Legg-Calvé-Perthes thành 4 giai đoạn.

Hình 20.9. (A) Catterall đã phân loại bệnh Legg-Calvé-Perthes thành 4 giai đoạn. Giai đoạn 1: Xuất hiện hoại tử ở mặt trước đầu xương đùi được ghi nhận bởi những vùng bị chấm đổm. Có mặt sự tiêu hủy, nhưng không có tạo mảnh xương vụn. Giai đoạn 2: Có hiện tượng tạo mảnh xương vụn được ghi nhận bởi những vùng cản tia X ở trung tâm. Cột giữa và bên của xương bình thường ngăn không cho vùng trung tâm bị đổ sụp. Giai đoạn 3: Hiện tượng tạo mảnh xương vụn lan rộng làm giảm bớt giá đỡ và làm tăng khả năng biến dạng còn lại. Sự hình thành nang hành xương được ghi nhận bởi những vùng có đường khía. Giai đoạn 4: Sự kết hợp toàn bộ tạo ra biến dạng còn lại đáng kể được thấy ở những vùng có đường cắt không đều báo hiệu tình trạng xơ cứng và kích thước của đầu xương đùi bị giảm. (Được phép trích từ Gerberg và Micheli [45]). (B) Bệnh Legg-Calvé-Perthes. Chụp Xquang cho thấy những thay đổi nghiêm trọng của đầu xương đùi trái toàn bộ do hoại tử vô mạch.

Điều quan trọng để khuyên bố (mẹ) và gia đình là tình trạng này tự nó giới hạn lại và chuyển biến tốt với sự nghỉ ngơi và việc đạt tới sự trưởng thành của bộ xương. Biện pháp thay đổi chủ động như dùng ống bọc đầu gối, chườm đá, xoa bóp, và thuốc chống viêm thường có tác dụng làm giảm tình trạng khó chịu này.

Bệnh Osgood-Schlatter

Bệnh Osgood-Schlatter, một rối loạn mấu xương thường gặp nhất, đã được mô tả một cách độc lập vào năm 1903. Tình trạng này phổ biến nhất ở những trẻ trai 10 đến 15 tuổi và ở trẻ gái sớm hơn 2 năm; thường ở hai bên ( 20-30% các trường hợp). Trong khi khám, điểm nhạy cảm đau nhất có thể được ghi nhận trên củ xương chày trước, tại vị trí này thấy lồi lên và sưng. Đau càng nặng hơn trong khi chạy, nhảy, và lên hoặc xuống cầu thang. Cản trở độ mở rộng đầu gối ở vị trí gấp 90 độ gây ra đau. Tiến hành chụp phim Xquang để loại trừ khả năng viêm xương tủy và dị dạng động – tĩnh mạch. Một xương bé tách ra riêng rẽ tại củ xương chày được ghi nhận ở 50% trong số các trường hợp được báo cáo.

Bệnh nhân và gia đình cần biết rằng có thể phải cần 12 đến 18 tháng để cho bệnh giảm tự nhiên bởi sự gắn đầu xương sinh lý. Điều trị bằng chườm đá, thuốc chống viêm, và một cái đệm đầu gối được viền xung quanh phù hợp làm giảm các triệu chứng.

Mức độ các hoạt động thể thao phải được cân bằng với khả năng chịu đựng và độ trầm trọng của các triệu chứng. Nếu các triệu chứng tiến triển thành trạng thái bất lực với các hoạt động của cuộc sống hàng ngày, thì một đợt ngắn (7-10 ngày) bất động đầu gối thường hồi phục được tình trạng bất ổn này. Không bao giờ nên tiêm steroid vào củ xương chày. Những trường hợp bệnh kéo dài, hiếm gặp mà không đáp ứng với một thử nghiệm dài liệu pháp bảo tồn có thể hồi phục bằng phẫu thuật cắt bỏ xương nhỏ nằm trên củ xương chày.

Bệnh Sever

Năm 1912, Sever đã mô tả một tình trạng viêm lành tính tới mỏm xương gót ở những người tuổi vị thành niên ưa hoạt động. Môn thể thao hay liên quan nhất đến bệnh Sever là bóng đá và chạy. Bệnh biểu hiện đau sau gót một bên hoặc hai bên (60%) ở vận động viên 8 đến 13 tuổi. Bệnh này liên quan với sự phát triển nhanh, các dây chằng gót chặt, và các bất thường sinh cơ học khác. Bệnh nhân có biểu hiện điểm nhạy cảm đau ở vị trí dính của gân Achilles trên xương gót. Trên phim Xquang có thể thấy sự phân đoạn từng phần và mật độ tăng lên của xương gót, do đó loại trừ được các nguyên nhân hiếm khác gây đau gót như u xương một buồng hoặc gãy xương do sang chấn. Biện pháp thay đổi chủ động như làm căng phức hợp cơ sinh đôi cẳng chân-cơ dép, dụng cụ xoay mắt cá vào và xoay ra, đệm bọc gót, đều đã được chứng minh có tác dụng. Trẻ em có thể trở lại với các môn thể thao mà không cần hạn chế tối 2 đến 4 tuần sau khi các triệu chứng hồi phục.

Viêm xương-sụn tách

Viêm xương-sụn tách (osteochondritis dissecans -OCD) được mô tả bởi sự tách mảnh xương với sụn khớp từ xương bình thường xung quanh nằm ở trên. Hơn 80% các trường hợp xảy ra ở mặt bên của lồi cầu trong xương đùi (Hình 20.10). Không xử trí đúng bệnh có thể tiến triển qua bôn giai đoạn: giai đoạn 1, sụn khớp bình thường; giai đoạn 2, mảnh xương ở vị trí bình thường và bắt đầu có sự phân ranh giới của sụn khớp; giai đoạn 3, bong ra từng phần; và giai đoạn 4, bong hoàn toàn mảnh xương và hình thành một khôi ròi ra. OCD có thể được xem như một gãy xương dưới sụn kết hợp do sang chấn và cần phân biệt với loạn sản đầu xương, những khuyết tật về cốt hóa, và gãy xương-sụn cấp tính. Viêm xương-sụn tách có thể nhiều hơn so với số mắc hiện tại được biết bởi vì các tổn thương không triệu chứng chỉ được phát hiện một cách ngẫu nhiên. Chẩn đoán dựa vào tiền sử lâm sàng có đau và sưng ở đầu gối hoặc cổ chân với một tiền sử thỉnh thoảng “bắt gặp”. Phim chụp Xquang thường phát hiện hầu hết các tổn thương. Có thể dùng phương pháp làm nhấp nháy đồng vị phóng xạ, nhưng chụp cắt lớp vi tính đã được dùng thường xuyên hơn để chẩn đoán giai đoạn tổn thương và phát hiện hiện tượng bong.

Điều trị bảo tồn, kể cả tránh các hoạt động khó nhọc hoặc gây ra sang chấn và dùng nạng nên được thực hiện trong một giai đoạn ít nhất là 6 tháng. Không phải tất cả các tổn thương liền một cách tự nhiên, và có thể cần biện pháp phẫu thuật để kích thích sự phát triển của xương mới. Đa số các bác sĩ phẫu thuật chỉnh hình thích khoan nội soi tổn thương từ bên trong khớp hơn.

BÌNH LUẬN

Nhập nội dung bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.