GIẢI TINH VI LUẬN THIÊN

KINH VĂN

GIẢI TINH VI LUẬN THIÊN
GIẢI TINH VI LUẬN THIÊN

Lôi Công hỏi rằng:

– Khốc (khóc thành tiếng), khấp (khóc ngầm) mà lệ (nước mắt) không ra hoặc ra mà ít “thể” (nước mũi) là vì sao?

Hoàng Đế dạy rằng:

– Tâm là chuyên tinh của năm Tàng. Nó khai khiếu lên mắt, hiện ra sắc là phần tươi tốt của Tâm. Vì vậy, phàm người có đức, thời khí hoà hiện ra mắt; có việc lo buồn, thời rầu rĩ tỏ ra sắc.
Vì vậy, bi ai thời “khấp hạ” (khóc cỏ lệ rơi). Khấp hạ là do Thủy sinh. Thủy do tông mạch; tích thủy tức là Chí âm. Chí âm là tinh cùa Thận. Sở dĩ lệ không rơi, là do tinh nó cũng giằng co, nên Thủy không xuất được(1).
Nghĩ như: tinh cùa Thủy là chí, tinh cùa Hỏa là thần; Thủy Hỏa tương cảm, thần chí đều bi, do đó Thủy mới từ trong mắt chảy ra. Cho nên “ngạn” có nói “tâm bi”, gọi là “chí bi”. Vì chí với Tâm tinh, đều dồn lên mắt.
Vì vậy, đều bi, thời thần khí truyền vào Tâm tinh, nên không truyền lên chí, mà chí độc bi, cho nên khấp mà lệ ra(2).

GIẢI TINH VI LUẬN THIÊN
GIẢI TINH VI LUẬN THIÊN

“Thế” phát sinh ra tự não (óc). Não thuộc âm; Tủy, là một chất làm cho đầy ở trong xương. Não thấm (rích) ra thành Phế. Chí là chủ cùa xương. Vì vậy, thủy chảy mà thế theo, là nó theo về đồng loại.
“Thế” với “khấp” (tức lệ) ví như anh với em, nếu mạch “cấp” thời đều chết, nếu sổng thời đều sống. Nếu chí mà sớm bi, thời “thể” và “khấp” sẽ đồng thời đằm đìa(3).

Lôi Công hỏi rằng:

– Cỏ người khốc khấp mà “lệ” không ra; có khi “lệ” ra mà ít “thế”, là vì sao?

Hoàng Đế dạy rằng:

GIẢI TINH VI LUẬN THIÊN
GIẢI TINH VI LUẬN THIÊN

– Khấp mà lệ không ra, là do khốc mà không thật bi. Không khấp là do thần không bi; thần không bi thời chí không bi. Âm dương cũng giằng co nhau, khấp (lệ) sao ra một mình được. Đại phàm, về chí mà bi, thời uất uất khí xung âm, xung âm thời chí rời khỏi mắt; chí đã rời thời thần không giữ tinh. Tinh thần rời khỏi mắt, thời “thế” và “khấp” đồng thời ra(4).
– Va, gã (Lôi Công) không nhớ ở Kinh (Linh khu) dạy ư? Phàm chứng quyết, thời mắt không còn trông thấy. Vì người mắc chứng quyết, thời Dương khí dồn lên trên, Âm khí dồn xuống dưới. Dương khí dồn lên trên thời hỏa sáng một mình; Âm khí dồn xuống dưới thời chân lạnh và bụng trướng, xem đó thời biết “một thủy” không thắng được “năm hỏa”, cho nên thành mục manh(5).
Vì vậy, ra gió thời lệ rơi. Bởi gió nó thổi vào mắt khiến cho Dương khí không glữ với tinh, một mình dương hỏa thiêu vào mắt, nên mới lệ rơi(6).
Muốn so sánh, thời như: hỏa mạnh sinh phong sẽ biến thành mưa. âu cùng một loài vậy(7).

CHÚ GIẢI:

GIẢI TINH VI LUẬN THIÊN
GIẢI TINH VI LUẬN THIÊN

(1) Bi ai động đến Tâm chí, cho nên “khấp hạ” mà Thùy sinh ra. Tinh của Thận Tàng, Thùy do tông mạch mà trên thông lên Tâm, ngoài rớt ra mắt, cho nên nói: “Mắt !à nơi tụ hội của tông mạch”. Nếu chí không bi, thi tinh bị “giằng” ở dưới, khiến cho Thủy không thể dẫn lên. Đây có ý nói tinh thủy ờ dưới, phải có động đến Thận chí, rồi mới cỏ thể dẫn lên.
(2) Đây nói thần sinh ra ở tinh, chí sinh ra ờ Tâm; Trong .Ly có hư, trong Khảm có mãn, đó là Thủy Hỏa trên dưới hỗ giao với nhau. Linh khu nói: “Cái sờ sinh nó lại gọi là tinh; hai tinh cùng xen nhau gọi là thần”. Vậy là thần khí sinh ra bởi Tâm. Cho nên nói: “Đều bi, thì thần khí truyền lên Tâm, thế là nói: cái thần khí ở Tâm tàng, vốn sinh ra tự Thận Tàng. Lại nói: Tâm có cái “sở ức”(1) gọi là ý, ý có “sờ tồn”(2) gọi là chí. Vậy thế là chính cũng sinh ra bời Tâm. Cho nên nói: “tinh, trên không truyền với chí” tức là nói tinh không truyền với chí, mà chí “độc bi” ờ trên, nên mới khấp xuất.

GIẢI TINH VI LUẬN THIÊN
GIẢI TINH VI LUẬN THIÊN

(3) Sờ ức: Cái điều gì hoặc nghĩ tới, nhớ tới.
(4) Sờ tồn: Nhớ ờ trong bụng. Trong bụng lúc nào cũng nghĩ đến.
(5) Thế với khấp đều phát sinh từ Thận. Vậy tử mạch cùa Thận hiện ra, “cấp” như gõ vào đá, thì sẽ đều chết. Nếu là sống, thì đồng thời đều chảy ra.
(6) Đây lại nói rõ thêm “khấp” phát ra từ thần rồi đến chí, mà “Thế” thì phát ra từ chí rồi mới đến thần. Cho nên thần không bi thỉ chí không bi, mà tinh không ra. Chí động thì thần không “thù”, mà thế, khấp đều ra. Vậy là thần “thù” thì chí yên, chí động thì thần động. “Âm dương cùng giằng co”, là nói về thần chí của thủy hỏa, chù trì ở trong thì tinh không tiết ra. “Uất uất xung âm”, đó là nói về chí xung lên trên não. Ở con người, mục hệ trên nối vói não, cho nên chí lên xung âm thì chí rời đi, mà chạy ra mắt; chí đã rời đi thì thần không “độc thù” được tinh, khiến cho tinh thần đều rời đi chạy ra cà mắt, do đó mới thành thế khấp đầm đìa.

GIẢI TINH VI LUẬN THIÊN
GIẢI TINH VI LUẬN THIÊN

(6) Quyết là một chứng thủy hỏa không tương giao mà tương nghịch. Tinh khi cùa cốt là dồng tử. Tinh khí cùa Thận không thông lên mắt, nên mắt không trông thấy. Tâm là Thái dương ờ trong dương, mà là chuyên tinh của năm Tàng cho nên dương dồn lên trên, không được Âm khí để điều hòa, thì Hỏa sẽ sáng một mình ờ trên; Thận là thủy Tàng nhận chứa tinh cùa năm Tàng; âm mạch họp ờ dưới chân mà tụ ờ Túc tâm. Cho nên âm dồn xuống dưới, không được Dương khí để điều hòa, thì chân lạnh và bụng trướng, “một thủy” tức là thủy cùa Thái dương, theo khí mà vận hành ra ngoài phu biểu. Thủy với hòa cùa Thiểu âm, để úng với nhật nguyệt cùa trời, đều cùng hội họp mà không thể rời. Vì vậy âm dương quyết nghịch, thì con mắt bị thong manh (còn đồng tử mà không trông thấy).
(7) Gió tức là Dương khí cùa trời. Dương khí của con người tức là thần khí. Hỏa khí, cũng là Dương khí ờ con người. Thần khí trong giữ với tinh, Dương khí.

GIẢI TINH VI LUẬN THIÊN
GIẢI TINH VI LUẬN THIÊN

BÌNH LUẬN

Nhập nội dung bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.