Search by category:
Đau dạ dày

Triệu chứng của bệnh trào ngược thực quản dạ dày

Bệnh trào ngược thực quản, dạ dày có triệu chứng lâm sàng gì?

Triệu chứng lâm sàng thường thấy nhất của bệnh trào ngược thực quản, dạ dày là “nóng tim”, nôn Ợ và nuốt khó. Triệu chứng khác của nó còn có đau ngực, nuốt dãi nhiều, vướng nghẹn, và nuốt đau (ít thấy). Chứng vướng nghẹn có cảm giác thấy vướng cục ở cổ họng liên tục, lâu dài. Nhưng không liên quan đến nuốt. Nuốt đau là triệu chứng hiếm thấy của bệnh trào ngược thực quản. Nó khác xa với viêm thực quản mang tính cảm nhiễm điển hình, hoặc loét thực quản do uống thuốc. Khi người bệnh bị loét thực quản, hay ăn mòn sâu, thì nuốt đau càng biểu hiện rõ hơn.

Triệu chứng nóng rát ngực
Triệu chứng nóng rát ngực

Chỗ khác nhau của bệnh trào ngược thực quản, dạ dày và viêm thực quản mang tính trào ngược.

Bệnh trào ngược thực quản, dạ dày là chỉ mọi bệnh tật có triệu chứng trào ngược. Hiện nay bệnh trào ngược thực quản, dạ dày chia thành bệnh trào ngược rữa nát, bệnh trào ngược không rữa nát, và barrett thực quản.

Viêm thực quản trào ngược là tính cả bệnh trào ngược thực quản, dạ dày, trong đó, là một loại điển hình của bệnh trào ngược thực quản, dạ dày, tức là bệnh trào ngược rữa nát. Soi dạ dày có thể phát hiện niêm mạc thực quản của người bệnh này bị rữa nát.

Mối quan hệ của bệnh trào ngược rữa nát, của bệnh trào ngược không rữa nát và barrett thực quản chưa rõ. Có học giả cho quan hệ đó là: Bệnh trào ngược không rữa nát đến bệnh trào ngược rữa nát đến barrett thực quản. Nhưng cũng có học giả cho rằng quan hệ của chúng độc lập nhau.

Đặc điểm lâm sàng của bệnh trào ngược thực quản, dạ dày không rữa nát.

Biểu hiện lâm sàng của bệnh trào ngược thực quản, dạ dày không rữa nát là do trào ngược hoặc vật trào ngược kích thích gây ra, nóng tim lâu dài là triệu chứng chính của nó. Ta có thể qui gộp vào hai triệu chứng lớn dưới: Thứ nhất là triệu chứng trào ngược, hay vật trào ngược kích thích thực quản gây ra. Tức nóng tim, ợ chua và nuốt khó. Thứ hai là triệu chứng gây ra bởi các bộ máy ngoài vật trào ngược kích thích thực quản, như đau ngực, đau bụng trên, đau yết hầu, giọng nói rè rè, ho và hen v.v…

Biểu hiện lâm sàng của bệnh trào ngược thực quản, dạ dày không rữa nát giống như viêm thực quản rữa nát. về lâm sàng không thể tách hai cái đó ra. Bệnh này không phải là bệnh trào ngược thực quản, dạ dày loại nhẹ. Nhưng có phải là giai đoạn đầu của bệnh trào ngược thực quản, dạ dày hay không, hiện nay chưa thể xác định. Đa phần người bệnh có biểu hiện lâm sàng ngoài đường tiêu hóa, thuộc về bệnh trào ngược thực quản, dạ dày không rữa nát. Tuy họ có triệu chứng của bệnh trào ngược thực quản, dạ dày nhưng không tổn thương đến niêm mạc thực quản. Quá trình phát bệnh tự nhiên của bệnh trào ngược thực quản, dạ dày không rữa nát không khác mấy với viêm thực quản rữa nát. Rất ít bệnh trào ngược thực quản, dạ dày không rữa nát phát triển thành bệnh lần đầu rữa nát. Cũng không có chứng cứ để chứng tỏ bệnh trào ngược thực quản, dạ dày không rữa nát sẽ phát triển thành viêm thực quản, hay barrett thực quản, không có nguy cơ ung thư tuyến thực quản. Nhưng bệnh trào ngược thực quản, dạ dày không rữa nát ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh không kém gì so với viêm thực quản rữa nát. Do mọi người chưa nhận thức đầy đủ với loại bệnh này, và lại điều trị không đỡ, nên thế nào cũng đem đau khổ nhiều đến với người ốm.

Người bị bệnh trào ngược thực quản, dạ dày kiểm tra soi dạ dày có những lợi ích gì?

Kiểm tra soi dạ dày có thể xác định xem bệnh trào ngược thực quản, dạ dày có bị viêm thực quản hay không, và mức độ của nó thế nào; và qua kiểm tra mẫu sống để tiến hành chẩn đoán bệnh lý và chẩn đoán phân biệt. Đó là phương pháp kiểm tra chẩn đoán có giá trị nhất hiện nay. Bệnh trào ngược thực quản dạ dày, khi soi dạ dày qua cửa thực quản vào có thể thấy nhiều nước bọt, và dịch vị có axit. Nếu thấy mật trong thực quản hay ở bụng dạ dày, thì thế nào cũng báo cho biết đã trào ngược dạ dày, tá tràng.

Chứng viêm ban đầu của viêm thực quản mang tính trào ngược điển hình, dưới nội soi ở vị trí cách cách chỗ nối khoảng 2cm có mô dạng vẩy và mô dạng trụ, niêm mạc nổi chấm đỏ, sung huyết, phù nề, phần thô nổi lên dạng hạt. Theo tiến triển bệnh, chứng viêm phát triển đến đầu gần và 2 bên thực quản, có dạng vẩy hòa trộn vào nhau, niêm mạc đỏ khắp nơi, thành thực quản và phía lưng xuất hiện rữa nát, mô dòn xốp, chạm vào dễ chảy máu. ở mặt ngoài che đậy một màng giả màu trắng xám. Người bị nặng có thể hình thành loét liên quan đến toàn lớp thực quản, mô sinh ra xơ, vết sẹo co lại. Đồng thời với kiểm tra soi dạ dày còn có thể loại bỏ được bệnh tật của bộ máy, như viêm thực quản trực khuẩn, và u thực quản, dạ dày lành và ác tính.

Nghi có bệnh trào ngược thực quản, dạ dày có thể làm những kiểm tra gì?

Mức độ trào ngược thực quản, dạ dày không giống nhau, biểu hiện lâm sàng của nó cũng khác nhau tương đối nhiều, người bị bệnh nhẹ, triệu chứng không rõ ràng, nên thường bị bỏ qua. Do đó phải căn cứ vào tình hình thực tế của người bệnh và chọn lấy cách kiểm tra liên quan để xác minh có hay không có bệnh trào ngược thực quản, dạ dày và mức độ viêm thực quản thế nào?

a – Kiểm tra phóng xạ: Kiểm tra phóng xạ đường ruột, dạ dày đã có lịch sử gần 100 năm nay. Những năm gần đây ứng dụng chụp ảnh cắt lớp đã nâng cao rõ rệt tỷ lệ phân biệt đối với bị bệnh ở niêm mạc. Đó là phương pháp chẩn đoán tiện lợi, dễ làm, chịu được lâu. Nó có thể chứng minh người bị bệnh trào ngược thực quản, dạ dày có bị phồng dộp thực quản, viêm, loét hay bị hẹp không? Tính nhạy cảm với viêm thực quản mang tính trào ngược đến 22% đến 95%, có thể đánh giá chức năng cơ co bóp thực quản dưới (les) không đầy đủ. Bằng thủ pháp phụ trợ như ép bụng, hay thực nghiệm varshalva, có thể nâng cao tỷ lệ kiểm tra trào ngược. Nhưng kiểm tra X-quang đối với tính mẫn cảm barrett thực quản lại rất thấp.

Biểu hiện lâm sàng của bệnh trào ngược thực quản dạ dày
Biểu hiện lâm sàng của bệnh trào ngược thực quản dạ dày

b – Độ pH axit, kiềm thực quản ở trạng thái động: Tiến bộ kỹ thuật làm cho đo pH ở thực quản trạng thái động trở thành phương pháp chẩn đoán hết sức có giá trị đối với bệnh trào ngược thực quản, dạ dày. Đo pH thực quản là “tiêu chuẩn vàng” chẩn đoán bệnh trào ngược thực quản, dạ dày đã được nhiều bệnh viện cỡ lớn và trung chọn dùng. Ý nghĩa chính của nó là: Xem có trào ngược không, và xác định mức độ trào ngược, trạng thái chức năng của les và đánh giá sau khi phẫu thuật chống trào ngược.

c – Kiểm tra nội soi: Nội soi là kiểm tra mang tính chẩn đoán rất quan trọng để xác định bệnh trào ngược thực quản, dạ dày, từ đó có thể phát hiện và đánh giá tổn thương niêm mạc thực quản và phân cấp. Nội soi mẫu sống là phương thức cần thiết chẩn đoán bệnh trào ngược thực quản, dạ dày không rữa nát, và barrett thực quản. Nhưng do hầu như 50% người bị bệnh trào ngược thực quản, dạ dày không có biểu hiện RE, do đó nội soi mẫu sống về ý nghĩa nào đó không thể nâng cao rõ rệt tỷ lệ chẩn đoán bệnh trào ngược thực quản, dạ dày. Nhưng lại có ý nghĩa về chẩn đoán bệnh trào ngược thực quản, dạ dày rữa nát.

d – Đo mật ở thực quản: Theo đà tiến bộ kỹ thuật về kiểm tra đo muối mật, tổn thương của muối mật đối với niêm mạc thực quản được chú ý. Nghiên cứu đã phát hiện: Có rất nhiều bệnh nhân trào ngược thực quản, dạ dày không rữa nát, đo pH thực quản 24 tiếng đồng hồ, axit tỏ ra bình thường, nhưng lại bị trào ngược vật chứa ở tá tràng. Nhưng gần đây máy kiểm đo mật Bilitee 200 kiểu mang theo ra đời, thường được dùng để đánh giá trào ngược của mật. Nếu có thể đồng thời đo được pH, thì cũng có thể nâng cao kiểm tra bệnh trào ngược thực quản, dạ dày.

đ – Đo áp lực thực quản: ứng dụng kỹ thuật đo áp lực thực quản vô cùng tiện lợi cho việc đánh giá vận động của thực quản và chức năng của les. Phương pháp này tuy không thể xem là kiểm tra bắt buộc đối với chẩn đoán bệnh trào ngược thực quản, dạ dày, nhưng lại có ý nghĩa để đánh giá nguyên nhân bệnh trào ngược và suy nghĩ xem có cần thiết điều trị bằng phẫu thuật tạo hình môn tâm hay nội soi từ dưới vào đối với hiệu quả trị liệu ức chế axit không rõ, hay cứ phải uống thuốc liên tục.

e – Kiểm tra hạt nhân phóng xạ thực quản: Kiểm tra hạt nhân phóng xạ thực quản là phương pháp kiểm tra mang tính không xâm nhập mà Kazemn đã thông báo năm 1972. Nó khắc phục sự hạn chế của đo áp lực thực quản và kỹ thuật chụp ảnh X-quang. Nó không chỉ có thể quan sát động thái vận động của thực quản và thời gian thức ăn đi qua, mà còn có thể lượng hóa được. Nhưng kiểm tra hạt nhân phóng xạ lại thuộc về kiểm đo ngắn ngủi. Tính mẫn cảm và tính riêng biệt của nó không bằng kiểm đo pH thực quản.

g – Các vấn đề khác: Siêu âm thực quản là kỹ thuật mang tính kết hợp để đánh giá giải phẫu học, hình thái học của thực quản và chức năng thực quản. Gần đây siêu âm cao tần trong vòm ra đời, nó đút được vào thực quản thời gian lâu, có thể đồng bộ kiểm đo áp lực thực quản, cung cấp được những thông tin sinh lý và bệnh lý thực quản. Siêu âm đồng bộ và đo áp lực thực quản nghiên cứu phát hiện, trước khi triệu chứng nóng tim xuất hiện có hiện tượng co thắt thực quản liên tục. Qua thí nghiệm cho axit vào thực quản dẫn đến cảm giác nóng tim, cũng có thể quan sát thấy. Ngoài ra còn có các báo cáo nghiên cứu về đánh giá điện thế khóa mô thực quản, kiểm tra cảm giác thực quản (như mở to nang khí, thí nghiệm cho axit vào thực quản v.v…) và kháng trở thực quản v.v…

Chẩn đoán bệnh trào ngược thực quản, dạ dày có thể căn cứ vào hạng mục khác nhau và chọn phương pháp kiểm tra khác nhau. Như cần xác định rõ có trào ngược các thứ khác, có thể chọn đo pH thực quản hay không, cần xác định rõ niêm mạc thực quản có tổn thương không, có thể làm nội soi cộng với lấy mẫu sống, uống bari ở đường tiêu hóa trên v.v… Nếu muốn dự báo phán đoán bệnh tật, có thể đo áp lực thực quản, đo trị pH thực quản.

Uống barie và kiểm tra nội soi chú trọng quan sát đến hậu quả của viêm thực quản mang tính trào ngược dẫn đến tổn thương niêm mạc thực quản. Đo pH và mật 24 tiếng có thể quan sát có nhiều axit, hay bị trào ngược mật hay không và quy luật của nó thế nào. Kiểm tra hình ảnh trào ngược hạt nhân phóng xạ thực quản, dạ dày không liên quan đến tính chất của vật trào ngược. Đo áp lực thực quản có thể thấy được áp lực cơ co bóp dưới của thực quản giảm, cơ co bóp thực quản dưới nhiều lần bị trùng, co thắt nhu động thực quản yếu đi hay thiếu. Những thứ này chính là cơ sở bệnh lý của viêm thực quản mang tính trào ngược. Thí nghiệm trị liệu chất ức chế bơm proton có thể giúp phán đoán có triệu chứng do trào ngược axit gây ra hay không. Hiện nay đã có thể ứng dụng đồng bộ đo áp lực thực quản kiểu mang theo, để đo pH và mật 24 tiếng đồng hồ. Từ đó giúp cho làm rõ mối quan hệ của triệu chứng bệnh trào ngược thực quản, dạ dày với trào ngược mật và axit, cùng động lực của nó, để chỉ đạo điều trị. cần phải phối hợp ứng dụng đo trào ngược mật và pH thực quản 24 tiếng đổi với người bệnh khó điều trị, với tìm hiểu lượng và loại hình trào ngược trước phẫu thuật chống trào ngược và phán đoán hiệu quả sau khi phẫu thuật chống trào ngược. Đồng thời tiến hành đo áp lực thực quản, quan sát tình hình trào ngược hiện chớp nhoáng ở dạ dày và thực quản, cùng những nhân tố ảnh hưởng. Bất cứ thí nghiệm đơn thuần nào đều không thể giải thích và đánh giá đầy đủ với tất cả các triệu chứng trào ngược thực quản, dạ dày. Chọn chẩn đoán, thí nghiệm đều thuộc vấn đề cần phải làm rõ.

Soi dạ dày thấy bình thường, tức loại bỏ được bệnhtrào ngược thực quản, dạ dày phải không?

Kiểm tra soi dạ dày là phương pháp chẩn đoán rất quan trọng để chẩn đoán rõ bệnh trào ngược thực quản, dạ dày; có thể phát hiện đánh giá và phân cấp tổn thương viêm thực quản. Nội soi mẫu sống là phương thức cần thiết chẩn đoán bệnh trào ngược thực quản, dạ dày không rữa nát, và barrett thực quản. Hơn nửa số người bệnh trào ngược thực quản, dạ dày nội soi không có biểu hiện viêm thực quản mang tính trào ngược. Nếu bệnh trào ngược thực quản, dạ dày không rữa nát là do trào ngược thực quản, dạ dày gây ra, có triệu chứng điển hình bao gồm nóng tim và trào ngược axit, cả ngực đau và có cả biểu hiện bên ngoài thực quản (ho, giọng rè, hen v.v…). Nhưng kiểm tra nội soi đường tiêu hóa trên không thấy niêm mạc thực quản bị phá hỏng. Do đó, kiểm tra nội soi, về ý nghĩa nào đó không thể rõ tỷ lệ chính xác của bệnh trào ngược thực quản, dạ dày. Tức kiểm tra nội soi có thể chẩn đoán đúng viêm thực quản mang tính trào ngược và barrett thực quản, chứ không loại bỏ được bệnh trào ngược thực quản, dạ dày không rữa nát.

Bệnh trào ngược thực quản, dạ dày của người giàcó những đặc điểm lâm sàng nào?

Ợ chua và nóng tim là những triệu chứng điển hình của viêm thực quản mang tính trào ngược củangười già. Nó thường xảy ra vào trước và sau bữa ăn, nửa đêm, hay sáng tinh mơ, và cũng xảy ra sau khi ăn no, và khi ngồi dốc về phía trước. Nóng tim là chỉ một loại cảm giác nóng ran, nóng bứt rứt ở sau ngực hay dưới ức. Đau ngực là chỉ đau ở phía sau ngực gây ra bởi đau mang tính tê liệt thực quản hay loét thực quản do vật trào ngược gây ra, có lúc rất giống như đau co thắt tim. Nuốt khó thường có tính gián đoạn, và không tăng nặng là do động lực của thực quản khác thường mà gây ra. Rất ít trường hợp viêm thực quản do hẹp gây ra.

So với viêm thực quản mang tính trào ngược ở tuổi trung niên và thanh niên thì viêm thực quản mang tính trào ngược của người già có kèm cả chảy máu, ho, hay phân đen tương đối nhiều. Viêm thực quản mang tính trào ngược của người già kèm theo ho, cảm giác tức thở, ho hen mãn tính v.v… xảy ra nhiều vào ban đêm, là do vật trào ngược chui vào đường thở mà gây ra. Chẩn đoán lâm sàng bị viêm khí quản nhánh do hít vào, viêm phổi do hít vào, hen khí quản nhánh, phổi bị xơ hóa. Triệu chứng phát bệnh ở đường hô hấp do viêm thực quản mang tính trào ngược của người già đến 44%.

Phát bệnh kèm theo, liên quan đến viêm thực quản mang tính trào ngược của người già là phồng dộp thực quản và hỏng dạ dày tương đối nhiều. Còn người bệnh viêm thực quản mang tính trào ngược ở tuổi trung niên và thanh niên kèm theo bệnh loét tá tràng tương đối nhiều.

Viêm thực quản mang tính trào ngược triệu chứng phát sinh thế nào?

  1. Hẹp thực quản: Có đến 8%-10% người bị bệnh trào ngược thực quản dạ dày, nếu không kịp thời chữa trị thì sẽ sinh ra hẹp thực quản, chủ yếu do viêm loét gây ra. Nếu kèm theo barrett thực quản thì càng dễ mắc bệnh. Người bệnh có biểu hiện nuốt tắc mang tính tiệm tiến, nhất là khi nuốt vật đặc càng dễ thấy nhất.
  2. Chảy máu: Do viêm thực quản ủ máu gây ra. Biểu hiện lâm sàng là phân đen, nôn ra máu v.v…, ít cơ hội ra nhiều máu.
  3. Barrett thực quản: Barrett thực quản có tỷ lệ phát hiện trong bệnh trào ngược thực quản dạ dày là 0,3%-2%. Trước mắt barrett thực quản được công nhận là bệnh tiền u của ung thư thực quản.

Post Comment