Search by category:
Sức khỏe gia đình

Biểu hiện Bệnh sốt vẹt – chẩn đoán và điều trị

Bệnh vẹt (psittacosis), hay “bệnh sốt vẹt” (parrot fever), là một bệnh phổi và toàn thân nhiễm từ chim vẹt, hay gặp là vẹt đuôi dài và vẹt cảnh, cừu, gà tây, vịt, hay chim bồ câu. Nguyên nhân là do chlamydia psittaci, một vi khuẩn nội bào bắt buộc. Từ 1982 đến 1991 đã có 1344 trường hợp báo cáo về CDC. Chỉ báo cáo có sáu trường hợp tử vong. Người ta cho rằng tỉ lệ mắc thực sự của bệnh này là lớn hơn, nhưng có vẻ như không được chẩn đoán hoặc không được báo cáo.

Bệnh sinh

Lây truyền từ chim sang người thông qua việc hít các hạt khí dung bị nhiễm từ phân hoặc bụi phân. Nhiễm trùng ở người hầu hết chỉ là mắc phải do tiếp xúc với chim nuôi trong nhà hoặc phơi nhiễm nghề nghiệp trong nhà máy chế biến gà tây hoặc vịt. Vi khuẩn này di chuyển tới các tế bào võng-nội mô của gan và lách và nhân lên tại đó. Sau đó là sự xâm nhập theo đường máu vào mô phổi và các cơ quan khác.

Đã có báo cáo về sự lây truyền từ người sang người và nó có thể dẫn đến bệnh nặng hơn. Sự lây truyền chủng c. psittaci gây sảy thai cừu sang phụ nữ mang thai đã cho thấy có gây ra sảy thai.

Biểu hiện lâm sàng

Thời kì ủ bệnh của sốt vẹt là 7 đến 21 ngày. Biểu hiện hay gặp nhất là viêm phổi, cho dù có thể xuất hiện tổn thương hệ tiêu hóa và hệ thần kinh trung ương (bảng 44.4). Bệnh có thể khởi phát cấp tính hoặc âm thầm. Viêm phổi điển hình có sốt cao, rét run, đau đầu, đau cơ, và nổi bật là ho thường nặng lên và ra dòm quánh có máu. Các triệu chứng toàn thân bao gồm đau đầu, lú lẫn, nôn, đau bụng, ỉa chảy, đau ngực kiểu màng phổi, đau khớp, phát ban dạng dát gọi là “chấm Horder”, xuất huyết đốm móng, hồng ban đĩa, mày đay, và hồng ban nút. Khởi phát âm thầm có thể có chán ăn, ho khan, khó chịu, và đau đầu.

Thường có đau cơ và đau khớp. Điều thú vị là xuất hiện chậm nhịp tim tương đối, điển hình cho các nhiễm trùng nội bào thường gặp. Các dấu hiệu thực thể bao gồm gan to và lách to. Nghe ngực thường không tương quan với mức độ nặng của hình ảnh X quang. Các biến chứng hiếm nhưng đã có báo cáo bao gồm viêm nội tâm mạc, viêm màng ngoài tim, viêm cơ tim, đông máu nội mạch lan tỏa, viêm màng não, sẩy thai tự nhiên, và đau khớp phản ứng.

Xét nghiệm

Số lượng bạch cầu thường bình thường hoặc hơi tăng hay hơi giảm. Có thể phân lập được c. psittaci từ đờm, dịch màng phổi, và dịch màng tim hoặc các mẫu sinh thiết tử thi phổi, lách, và gan.

Chẩn đoán

Về lâm sàng, sốt vẹt đặc trưng bởi sốt, rét run, đau đầu, sợ ánh sáng, bệnh đường hô hấp dưới hoặc trên, và đau cơ.

Bảng 44.4. Các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh nhânsốt vẹt ở Hoa Kì (1975-1984)

Dấu hiệu hoặc triệu chứng Tỷ lệ (%)
Sốt 72
Ho 44
Đau đầu 38
Yếu/mệt 33
Rét run 33
Đau cơ 25
Buồn nôn/nôn 14
Chán ăn 13
Đau ngực 11
Vã mồ hôi 11

Tiêu chuẩn xét nghiệm

Phân lập c. psittaci từ một mẫu lâm sàng hoặc tăng hiệu giá kháng thể cố định bổ thể sốt vẹt (CFA) trên bốn lần (> 1:32) giữa các mẫu lấy cách nhau trên 2 tuần. Xét nghiệm CFA này đặc hiệu chỉ đối với giống Chlamydia và hay dùng nhất cho xét nghiệm huyết thanh với các mẫu thu thập cách nhau ít nhất 2 tuần. Một hiệu giá đơn độc hoặc ổn định từ 1:64 trở lên gợi ý nhiễm trùng mới đây. Đáp ứng CFA có thể bị giảm sút hoặc không xuất hiện do điều trị ngay bệnh nhân bằng tetracyclin.

Phân loại trường hợp bệnh

Xác định một trường hợp có thể bị bệnh khi tương hợp về mặt lâm sàng có liên quan với một trường hợp đã khẳng định hoặc có kết quả ::ét nghiệm huyết thanh hỗ trợ (một hiệu giá CFA trên 1:32 từ một hoặc nhiều mẫu sau khi khởi phát triệu chứng). Một trường hợp được khắng định là bị bệnh khi tương hợp về mặt lâm sàng, đồng thời được khẳng định về xét nghiệm.

Xử trí

Liệu pháp dược lí học bao gồm tetracyclin 500 mg đường uống cứ 6 giờ một lần hoặc doxycyclin 100 mg đường uống cứ 12 giờ một lần trong 2 đến 3 tuần. Erythromycin là lựa chọn thay thế tốt nhất đối với phụ nữ mang thai và trẻ em. Các kháng sinh macrolid là clarithromycin và azithromycin cũng có hiệu quả. Nhiễm trùng lúc ban đầu không tạo được miễn dịch suốt đời.

Post Comment