TAM DƯƠNG LẠC
三陽络穴
TE 8 Sān yáng luò xué (Sann Yang Lo).

Xuất Xứ của huyệt Tam Dương Lạc:
«Giáp ất».
Tên gọi của huyệt Tam Dương Lạc:
– “Tam” có nghĩa là ba.
– “Dương” có nghĩa trái với âm, ở đây nói đến ba kinh dương ở tay.
– “Lạc” có nghĩa là nối nhau hay kết hợp.
Ba kinh dương ở tay được nối với nhau tại huyệt này. Huyệt tương ứng vói Tam-âm giao (Ba kinh âm giao vói nhau) ở hạ chi. Nên có tên là Tam-dương lạc Theo “Hội nguyên” ghi rằng: “Kinh của Thủ Túc Tam-âm với Tam-tiêu giao với nhau mà thông với âm. Tam dương, ở tay hóa âm mà thông giao lớn của các mạch. Tam dương tụ kết. Hội các nhánh hóa thành Khích của dương lạc nên được gọi là Tam-dương lạc”.

Tên Hán Việt khác của huyệt Tam Dương Lạc:
Thông quan, Thông gian, Thông môn, Quá môn.
Huyệt thứ:
8 Thuộc Tam-tiêu kinh.

Mô tả của huyệt Tam Dương Lạc:
1. VỊ trí xưa:
Nơi đường mạch lớn giao nhau trên cánh tay, trên huyệt Chi cấu đo lên 1 thốn (Giáp ất, Đồng nhân, Phát huy, Đại thành).

2. VỊ trí nay:
Trên huyệt Dương trì 4 thốn, ở giữa khe xương quay, xương trụ mặt sau cẳng tay.

3. Giải phẫu, thần kinh Dưới của huyệt Tam Dương Lạc:
là khe giữa cơ duỗi chung ngón tay và cơ duỗi riêng ngón tay út, giữa chỗ bám của cơ duỗi dài riêng và cơ duỗi ngắn riêng ngón tay cái ở trên màng gian cốt – Thần kinh vận động cơ là các nhánh của dây thần kinh quay. Da vùng huyệt chi phối bỏi tiết đoạn thần kinh C7.

Tị trí huyệt Tam-dương lạc
Hiệu năng của huyệt Tam Dương Lạc :
Khai khiếu thông lạc.
Tác dụng trị bệnh của huyệt Tam Dương Lạc:

1 Tại chồ, Theo kinh :
2. Toàn thân :
Mất tiếng, lãng tai, điếc, đau nhức do giải phẫu phổi.

Lâm sàng của huyệt Tam Dương Lạc:
1 Kinh nghiệm tiền nhân:
Phối Chi cấu, Thông cốc trị mất tiếng đột ngột (Tư sinh).

2. Kinh nghiệm hiện nay :
Phối Phong trì trị đau đấu. Châm xiên xuống thấu Khích môn trong trường hợp trấn thống lúc giải phẫu phôi. Phối Hợp cốc, Khúc trì trị đau vai tay. Phối Nhĩ môn, Thính cung, Trung chủ trị điếc. Phối Chi câu, Thông cốc trị câm đột ngột.

Phương pháp châm cứu:
1. Châm Thẳng, sâu 1-1,5 thốn, có cảm giác căng tức tới vùng khuỷu tay. Xiên tới huyệt Khích môn, sâu 2 – 3 thốn có cảm giác căng tê ở cánh tay trước, đồng thời chạy xuống mút ngón tay có khi đến cùi chỏ.
2. Cứu 5 – 7 lửa.
3. Ôn cứu 5-15 phút.
* Chú ý Nếu ngộ châm gây nôn mửa, ỉa chảy mạch chạy nhanh loạn nhịp, dùng huyệt Túc Tam-lý hoặc Tam-âm giao để giải cứu. Khi châm vê kim nhiều lần để đắc khí đồng thời lay động kích thích cán kim chừng 20 phút là được.

Tham khảo của huyệt Tam Dương Lạc:
1. «Giáp ất» quyển thứ 10 ghi rằng: “Thích nằm, thân thể không thể quay trỏ, nóng nhiều, dùng Tam dương lạc làm chủ”.
2. «Giáp ất» quyển thứ lỉ ghi rằng: “Nội thương bất túc, dùng Tam-dương lạc làm chủ, nóng lạnh ngoài da, lông khô, không có mô hôi, chọn huyệt Lạc của Tam dương, bô’ Thủ Thái- dương. Thích nằm, mình mẩy không thể chuyến động, rất nóng, dùng Tam dương lạc làm chủ”.

3. «Đồng nhân» ghi rằng: “Tam-dương lạc trị tai điếc đột ngột, sâu răng. Mất tiếng đột ngột, có thể cứu 7 lửa”.
4. Huyệt Tam-dương lạc, theo “Tố vấn – cốt không” Vương Băng chú, gọi là Thông gian, “Tụ anh” gọi là Thông môn, “Dại thành” gọi là Quá môn.
