HUYỆT U MÔN NẰM Ở ĐÂU?
幽门穴
K 21 Yōumén xué (lou Menn)
Xuất xứ của huyệt U Môn từ đâu?
Sách «Giáp ất».
Ý nghĩa Tên gọi của huyệt U Môn là gì?
– “U” có nghĩa là ẩn núp, sâu xa, giấu chỗ kín.
– “Môn” có nghĩa là cổng hay cửa.
Huyệt liên hệ với miệng của dạ dày, nó ở bên trong như ẩn núp dưới bờ cung sườn, cho nên có tên là u môn.
Theo “Du huyệt mệnh danh hội giải” ghi rằng: “Ư môn, là cửa ngõ phía dưới Vị. Huyệt ở chỗ này nên gọi là u môn”. Có 7 cửa xung yếu trong hệ thổng tiêu hóa: Phi môn (môi), Hộ môn (răng), Hấp môn (miệng hàm ếch), Bí môn (miệng trên dạ dày)U môn (miệng dưới dạ dày), Lan môn (nơi tiếp giáp đại tiêu trường) và Phách môn (lỗ hậu môn).
Tên Hán Việt khác của huyệt U Môn là gì?
Thượng môn.
Huyệt thứ:
21 Thuộc Thận kinh.
Đặc biệt của huyệt U Môn là gì?
Hội của Túc thiếu âm, Xung mạch.
Vị trí của huyệt U Môn nằm ở đâu?
1. Vị trí xưa:
Chỗ hõm cách 2 bên huyệt Cự khuyết 0,5 thốn (Giáp ất).
2. Vị trí nay:
Xác định huyệt Cự khuyết rồi đo ra 0,5 thốn.
3. Giải phẫu, thần kinh Dưới của huyệt U Môn là gì?
là cân cơ chéo to của bụng, bò trong cơ thang to, mạc ngang, phúc mạc. Dưói nữa là gan – Thần kinh vận động cơ là 6 nhánh dây gian sườn dưới vá dây bụng sinh dục. Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh T6.
Tác dụng trị bệnh của huyệt U Môn là gì?
Tại chỗ:
Đau thần kinh liên sườn, no hơi, co thắt dạ dày, viêm dạ dày mãn tính.
Kinh nghiệm Lâm sàng của huyệt U Môn là gì?
1. Kinh nghiệm tiền nhân :
Phối Ngọc đường trị bồn chồn, nôn mửa (Bách chứng).
2. Kinh nghiệm hiện nay:
Phối Phúc kết trị chứng ọe mửa lúc có thai. Phối Trung quản, Thượng quản, Cự khuyết trị ho. Phối Tam ly, Tam-âm giao trị ho ra máu. Phối Nội quan, Trung quản, Lương khâu, Túc Tam-lý trị đau dạ dày, nghẹn, nôn mửa. Phối Xích trạch trị ho ra máu.
Phương pháp châm cứu của huyệt U Môn như thế nào?
1. Châm Thẳng, 0,7 – 1 thốn.
2. Cứu 5 lửa.
3. Ôn cứu 15-20 phút.
* Chú ý:
Dưới là gan không được châm sâu.
Tham khảo của huyệt U Môn:
1. «Thiên kim» quyển thứ 13 ghi rằng: “Đau trong ngực dẫn đến lưng, thắt lưng, tức dưới tim muốn mửa, sắc mặt không được tươi nhuận cứu Thượng môn, tùy theo tuổi mà cứu số lửa, huyệt nằm ở Cự quyết đo ra mỗi bên nửa thốn”.
2. «Đại thành» quyển thứ 6 ghi rằng: “U môn chủ trị bụng dưới trướng đầy, nôn mửa ra dãi bọt, thích khạt ọe, tức ngột dưới tim, xuyên đau trong ngực, đầy no không muốn ăn, mót rặn, ho nhiều, ỉa chảy lỵ ra máu đờm, đỏ mắt đau tù khóe trong mắt, phụ nữ đau tim, nghịch khí, hay mửa”.
3. «Bách chứng phú» ghi rằng: “U môn chủ trị tâm phiền, nôn mửa, dùng u môn và Ngọc đường” (Phiền tâm, ẩu thổ, u môn khai thiết Ngọc đường minh).
4. Theo “Giáp ất” huyệt u môn còn có tên là Thượng môn.